Việt Nam hóa

Việt Nam hóa là thuật ngữ được Richard Nixon sử dụng để mô tả chính sách của Hoa Kỳ đối với miền Nam Việt Nam trong giai đoạn sau của Chiến tranh Việt Nam. Việt Nam hóa là chính sách mong muốn của Nixon để cho phép Nam Việt Nam chịu trách nhiệm lớn hơn cho cuộc chiến trong khi Mỹ bắt đầu rút tiền theo kế hoạch, đồng thời hỗ trợ chính phủ ở Sài Gòn trong cuộc chiến chống NLF. Vào tháng 6 năm 1969, Nixon tuyên bố giảm quân số đầu tiên - 25.000 lính Mỹ sẽ bị rút. Tuy nhiên, điều này vẫn khiến 515.000 lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Vào tháng 12 năm 1969, Nixon tuyên bố thêm 60.000 người sẽ rời Nam Việt Nam.

Song song với việc giảm mức quân số này, Mỹ đã gặp chính phủ Bắc Việt ở Paris để thảo luận về một dàn xếp hòa bình. Tại đây, người Mỹ đã sử dụng Lý thuyết Madman trong một nỗ lực nhằm đe dọa chính quyền Hà Nội chấp nhận các điều khoản hòa bình với tốc độ chóng mặt. Lý thuyết Madman rất đơn giản - đó là một nỗ lực để thuyết phục chính phủ ở Hà Nội rằng Nixon rất ghét chủ nghĩa cộng sản và đã được thuyết bởi Lý thuyết Domino, rằng ông đang lên kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Bắc Việt nếu chiến tranh tiếp diễn. Rõ ràng một mưu đồ như vậy đã không làm đảo lộn các đại diện Bắc Việt khi các cuộc đàm phán ở Paris đã diễn ra một thời gian.

Nixon cũng ủy quyền cho Chương trình Phoenix. Đây là một nỗ lực của các cảm tình viên Hoa Kỳ để thâm nhập vào các ngôi làng được cho là có thiện cảm với NLF, tìm ra ai là lãnh đạo NLF địa phương và giết họ. Gần 41.000 thành viên của NLF đã bị giết do Phoenix. Tuy nhiên, NLF đã nhanh chóng thay thế tổn thất của họ và tác động của Phoenix chỉ là ngắn hạn và không có tác động lâu dài đến khả năng của NLF để chiến đấu với cuộc chiến của mình. Do đó, Nixon biết rằng ông cần phải ra lệnh, với tư cách là tổng tư lệnh, một cách mới để chiến đấu với Chiến tranh Việt Nam.

Do đó, vào năm 1969, Tổng thống Nixon đã công bố một chính sách mới - Việt Nam hóa. Việt Nam hóa có hai phần với nó. Phần đầu tiên là rút quân đội Hoa Kỳ khỏi miền Nam Việt Nam và phần thứ hai là sự tài trợ thêm của Quân đội Nam Việt Nam (SVA) để có thể nhận trách nhiệm lớn hơn nữa trong cuộc chiến chống lại miền Bắc. Có rất ít nghi ngờ rằng Nixon đã đưa ra tuyên bố chính sách của mình để đáp ứng với tình hình chính trị ở Mỹ. Ít ai có thể tin rằng chính SVA có khả năng chống lại một cuộc tấn công toàn diện của các lực lượng chiến đấu cho miền Bắc. SVA luôn được coi là một lực lượng chiến đấu thứ cấp sau khi Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Nam Việt Nam vào năm 1965. Ngay cả các chỉ huy quân sự cấp cao của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam tin rằng, tốt nhất, chỉ có thể chứa các lực lượng của miền Bắc một khi Hoa Kỳ hỗ trợ quân sự đã được rút lại. Rất ít, nếu có bất kỳ chỉ huy cấp cao nào của Mỹ, tin rằng SVA có khả năng tấn công. Người ta thường cho rằng Hoa Kỳ sẽ phải cung cấp cho SVA số lượng thiết bị rất lớn nhưng ngay cả điều này cũng không thể đảm bảo chống lại vấn đề ngày càng tăng mà SVA phải đối mặt. Người Mỹ cho rằng đàn ông trong SVA nên đóng quân càng gần nhà càng tốt để họ có thể cảm thấy tự hào khi bảo vệ lãnh thổ của mình trước kẻ xâm lược.

Vào tháng 3 năm 1969, Melvin Laird, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, đã ra lệnh tăng tốc trong các quá trình theo đó quân đội Hoa Kỳ bàn giao cho Nam Việt Nam xử lý chiến tranh. Laird đảm bảo rằng nhu cầu của anh ta được thực hiện với tốc độ phù hợp. Chính sách này được đưa ra thuật ngữ Vietnamisation. Vào ngày 10 tháng 4thứ, 1969, Tiến sĩ Henry Kisbah, trợ lý đặc biệt của Nixon về an ninh quốc gia, nói với Laird để chuẩn bị một thời gian biểu cụ thể cho việc rút quân của Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam. Những người lính Mỹ còn lại trong thời gian rút quân là để có một khả năng tư vấn và hỗ trợ cho chính phủ và quân đội Nam Việt Nam.

Rút quân Mỹ bắt đầu vào ngày 1 tháng 7thứ 1969. Laird đã cung cấp ba ngày hoàn thành - tháng 12 năm 1970, tháng 6 năm 1971 và tháng 12 năm 1972. Quyết định loại bỏ quân đội Hoa Kỳ khỏi miền Nam Việt Nam có thể là kỳ lạ từ quan điểm quân sự. Tất cả các chỉ huy quân sự cấp cao của Hoa Kỳ gần như đồng ý rằng SVA sẽ không có khả năng bảo vệ Nam Việt Nam trước một cuộc tấn công kết hợp NLF-Việt Cộng và kết quả cuối cùng sẽ là sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á - chính xác là những gì Hoa Kỳ đã thực hiện chiến đấu chống lại từ giữa những năm 1950. Tuy nhiên, từ quan điểm chính trị, Việt Nam hóa là rất dễ hiểu. Chiến tranh ngày càng trở nên không phổ biến ở Mỹ và với tư cách là Tổng thống, của Nixon, sẽ được nâng lên rất nhiều khi người đàn ông rút Mỹ ra khỏi Chiến tranh Việt Nam. Việt Nam hóa cũng đảm bảo, theo quan điểm của Nixon rằng SVA sẽ được để lại với sự hỗ trợ quá đủ cho sự sống còn của nó. Mặc dù anh ta cần phải rút quân đội Hoa Kỳ vì những lý do chính trị tốt, Nixon không muốn được biết đến với tư cách là tổng thống rời khỏi SVA và chống lại kẻ thù như NLF.

Đến cuối năm 1971, 66% quân đội chiến đấu của Hoa Kỳ đã rời Nam Việt Nam. Việc giảm các cố vấn mặc dù chỉ là 22%. Ưu tiên chính của người Mỹ năm 1972 là cung cấp cho quân đội miền Nam Việt Nam đủ trang thiết bị hiện đại để chiến đấu với quân Bắc Việt. Từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1972, 105.000 phần cứng quân sự đã được đổ bộ vào miền Nam Việt Nam. SVA nhận được xe tăng M48 mới, pháo tự hành 175mm và vũ khí chống tăng. Không quân miền Nam đã nhận được máy bay cho năm phi đội máy bay chiến đấu F5, ba phi đội máy bay ném bom A37 và hai phi đội máy bay vận tải hạng nặng CH-47.

Cuộc ngừng bắn giữa Bắc và Nam Việt Nam vào ngày 23 tháng 1 năm 1973 đánh dấu sự kết thúc của Việt Nam hóa. Lệnh ngừng bắn quy định rằng tất cả các lực lượng quân sự Hoa Kỳ thuộc bất kỳ mô tả nào phải rời khỏi Nam Việt Nam và rằng Hoa Kỳ phải ngừng viện trợ quân sự cho miền Nam. Đổi lại, miền Bắc sẽ duy trì lệnh ngừng bắn, trả lại tù binh Hoa Kỳ và chấm dứt sự xâm nhập vào miền Nam. Vào ngày 29 tháng 3, trụ sở quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam đã ngừng hoạt động.

Bài viết liên quan

  • Sự tham gia của Mỹ tại Việt Nam

    Sự can dự của Mỹ vào Việt Nam, đó là dẫn đến một cuộc tấn công quân sự toàn diện vào Bắc Việt Nam, là một phần của kịch bản Chiến tranh Lạnh mà Hồi

  • Mỹ và Việt Nam (1965-1973)

    Chiến tranh Việt Nam đọ sức với Mỹ chống lại chủ nghĩa cộng sản và là một ví dụ kinh điển về xung đột Chiến tranh Lạnh. Các đồng minh phương Tây đã chiến thắng ở Berlin, nhưng

  • Quân đội miền nam

    Quân đội miền Nam Việt Nam (SVA) đã được Mỹ tài trợ trong suốt những năm cuối thập niên 1950, 1960 và là kết quả của Việt Nam hóa, đến một trận đấu thậm chí còn lớn hơn