Võ Nguyên Giáp

Tướng Võ Nguyên Giáp là chỉ huy quân sự cao cấp nhất của NLF trong Chiến tranh Việt Nam. Giáp tỏ ra là một đối thủ xứng đáng với người Mỹ. Là một chỉ huy, Giáp sẵn sàng pha trộn chiến thuật của mình giữa chiến tranh du kích cổ điển và các cuộc tấn công thông thường như đã thấy trong Cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968.

Giáp sinh năm 1912. Ông có một nền giáo dục tương đối thoải mái và năm 14 tuổi, Giáp gia nhập nhóm Tân Việt Cách Mạng Đăng - một nhóm thanh niên cách mạng. Sau khi học tại một lycée (mà anh ta tuyên bố mình đã bị đuổi học vì tổ chức các cuộc đình công của sinh viên), Giáp gia nhập Đại học Hà Nội. Tại đây, ông có bằng tiến sĩ kinh tế nhưng dạy Lịch sử tại trường Thăng Long khi rời trường đại học.

Giáp gia nhập Đảng Cộng sản năm 1931 và tham gia biểu tình chống lại sự thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam. Ông đã bị bắt vì các hoạt động của mình vào năm 1932 và thụ án 18 tháng tù hai năm. Năm 1939, Pháp ngoài vòng pháp luật cộng sản ở Việt Nam và Giáp trốn sang Trung Quốc. Tại đây, ông đã tham gia với Hồ Chí Minh, lãnh đạo tương lai của miền Bắc Việt Nam. Khi anh ở Trung Quốc, chị gái anh, người chia sẻ tình cảm chống Pháp, đã bị bắt và sau đó bị xử tử tại Việt Nam. Vợ anh cũng bị tống vào tù, nơi cô chết. Có thể có một chút nghi ngờ rằng cả hai sự kiện này đều có tác động rõ rệt đến Giáp, người gần như chắc chắn đã quyết định do hai sự mất mát cá nhân này để cống hiến cuộc đời của mình để đưa Pháp ra khỏi Việt Nam.

Từ 1942 đến 1945 Giáp đã giúp tổ chức kháng chiến chống Quân đội Nhật Bản đã xâm chiếm Trung Quốc và Việt Nam. Chính trong thời gian này, Giáp đã hoàn thiện chiến thuật du kích mà Mao Trạch Đông đã sử dụng rất hiệu quả để chống lại người Nhật.

Sự đầu hàng của Nhật Bản vào tháng 8 năm 1945 đã tạo ra một khoảng trống quyền lực ở Việt Nam. Người Pháp đã mất quyền kiểm soát khu vực này do sự bành trướng của Nhật Bản. Hồ Chí Minh tuyên bố một chính phủ lâm thời cho Việt Nam, mà ông sẽ lãnh đạo và tháng 9 năm 1945 Hồ tuyên bố thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó Giáp là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tuy nhiên, Ho không biết các cường quốc thống trị các khu định cư hòa bình của Thế chiến thứ hai đã quyết định một hướng hành động khác. Họ quyết định rằng miền bắc Việt Nam sẽ nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc theo chủ nghĩa dân tộc trong khi người Anh sẽ kiểm soát miền nam. Quyết định này đã không tính đến mong muốn của người Pháp để thiết lập lại quyền kiểm soát của chính họ trong khu vực. Năm 1946, cả Trung Quốc và Anh đều rút quân khỏi Việt Nam và Pháp tái lập quyền kiểm soát đối với thuộc địa cũ của họ.

Người Pháp từ chối công nhận chính phủ của Hồ và xung đột nhanh chóng xảy ra giữa người Pháp và quân đội do Giáp lãnh đạo. Ban đầu Giáp trải qua nhiều vấn đề, vì lực lượng Pháp được trang bị tốt hơn. Tuy nhiên, quân đội Pháp đã lan rộng và điều này cho phép Giáp có cơ hội xây dựng lại lực lượng của mình. Khi Cộng sản đã thiết lập quyền kiểm soát ở Trung Quốc, Giáp thấy rằng lực lượng của mình nhận được sự hỗ trợ tốt hơn từ Trung Quốc của Mao. Sự gần gũi của Trung Quốc cũng tạo cho Giáp cơ hội một căn cứ an toàn cho các binh sĩ bị thương để nhận viện trợ y tế khỏi cuộc chiến đấu ở Việt Nam. Các chuyên gia du kích Cộng sản Trung Quốc giàu kinh nghiệm cũng hỗ trợ Giáp.

Giáp nhanh chóng nổi tiếng là một bậc thầy về chiến tranh du kích. Tuy nhiên, chống lại người Pháp, ông cũng cho thấy mình đã thành thạo các chiến thuật thông thường. Tại Điện Biên Phủ, chỉ huy người Pháp, Navarre, hy vọng rút ra lực lượng của Giáp cho một trận đánh lớn dựa trên kế hoạch chiến đấu truyền thống. Giáp vượt qua Navarre và bao vây lực lượng Pháp tại Điện Biên Phủ. Giáp có 70.000 người tùy ý - gấp năm lần số lính Pháp ở đó. Anh ta cũng có pháo 105mm và pháo phòng không của Trung Quốc và anh ta đã sử dụng chúng để đảm bảo rằng Pháp không thể sử dụng súng hơi để cung cấp cho quân đội tại Điện Biên Phủ. Khi ông hài lòng rằng người Pháp đã suy yếu đủ, Giáp đã ra lệnh tấn công toàn diện (ngày 13 tháng 3thứ 1954). Vào ngày 7 tháng 5thứ Người Pháp đầu hàng. 11.000 người đã bị bắt làm tù binh và 7.000 người đã bị giết hoặc bị thương. Vào ngày 8 tháng 5thứ, người Pháp tuyên bố họ rút khỏi Việt Nam. Đó là một chiến thắng lớn cho Giáp và phong ấn danh tiếng của ông như một chỉ huy quân sự.

Trong suốt cuộc chiến tranh với Mỹ ở Việt Nam, Giáp vẫn là Tổng tư lệnh các lực lượng Bắc Việt. Tác động của chiến thuật chiến tranh du kích của NLF đã được ghi nhận rõ ràng. Giáp đảm bảo rằng NLF kết bạn với dân làng ở miền Nam và làm việc cho họ. Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy rằng khi các ngôi làng ở miền Nam không chào đón NLF, đã có sự trừng phạt khắc nghiệt của NLF. Sẽ dễ dàng đánh đổi hình ảnh của Giáp và quân đội của ông được ca ngợi là những người giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân trên khắp miền Nam Việt Nam - nhưng đây không phải là trường hợp.

Giáp cũng sử dụng các chiến thuật thông thường như cuộc tấn công Tết năm 1968 đã thể hiện.

Sau khi Richard Nixon giới thiệu Việt Nam, đã giảm số lượng nhân viên quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam. Điều này khiến quân đội miền Nam Việt Nam dễ bị tổn thương bởi NLF và thật bất ngờ khi quân đội NLF vào Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4thứ, 1975. Một nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tuyên bố và Giáp được đặt tên là Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Năm 1980 Giáp mất vị trí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và năm 1982, mất chức Phó Thủ tướng, ông nghỉ hưu.

Một số, như Stanley Karnow, xem Giáp như một chỉ huy quân sự lớn trong khuôn khổ của Wellington và MacArthur. Tướng Westmoreland không chia sẻ quan điểm này. Ông tuyên bố rằng Giáp đã thành công vì ông hoàn toàn coi thường tính mạng con người và NLF phải chịu tổn thất lớn do lệnh của ông. Westmoreland tuyên bố rằng Giáp là một đối thủ đáng gờm nhưng không phải là một thiên tài quân sự.