Lịch sử Podcast

Tuyên bố Trung lập của Lào Ký tại Geneva - Lịch sử

Tuyên bố Trung lập của Lào Ký tại Geneva - Lịch sử

Tuyên bố Trung lập của Lào Ký tại Geneva

Nông thôn Lào

Một hiệp định đã được ký kết tại Geneva để tái lập nền trung lập của Lào. Các điều khoản của thỏa thuận kêu gọi Hoàng tử Souvanna Phoumato được phục hồi làm Thủ hiến của Lào. Thỏa thuận được Mỹ và Liên Xô đồng ý đã tạm thời chấm dứt nội chiến ở Lào.


Khi Tổng thống Kennedy nhậm chức, mối quan tâm chính của ông ở Đông Nam Á là Lào, nơi một cuộc nội chiến đang diễn ra giữa các lực lượng Cộng sản và không cộng sản. Hiệp định Genève kết thúc Chiến tranh Đông Dương thuộc Pháp đã giao phần lớn đất nước cho Vương quốc Lào trong khi trao hai tỉnh cho Pathet-Lào. Năm 1956, Hoàng tử Souvanna Phouma trở lại nắm quyền và thành lập một chính phủ liên minh bao gồm Pathet Lào. Mỹ phản đối việc cắt viện trợ. Phe đối lập đúng đắn nhất đã lên nắm quyền và hai tỉnh sau một thời gian ngắn được hợp nhất trở lại chính quyền trung ương lại nằm dưới sự kiểm soát của Pathet Lào. Mỹ và Liên Xô đã đồng ý tại Hội nghị Geneva năm 1962 rằng trên thực tế, Lào sẽ trung lập và Phouma sẽ trở lại với tư cách lãnh đạo. Họ Mỹ lần này vui mừng với kết quả mà Bắc Việt đang sử dụng một phần đất nước Lào làm đường tiếp tế thì không.


Hiệp định Geneva năm 1962 về Lào

các văn kiện được ký kết tại Geneva, Thụy Sĩ, trong một hội nghị quốc tế (16 tháng 5 năm 1961-23 tháng 7 năm 1962) về việc giải quyết vấn đề tiếng Lào. Tham gia hội nghị có đại diện các nước Lào, Liên Xô, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Ba Lan, Mỹ, Pháp, Anh, Ấn Độ, Miến Điện, Campuchia, Canada, Thái Lan và chính quyền Sài Gòn. Đại diện của ba lực lượng chính trị ở Lào đã được mời tham dự hội nghị trên cơ sở bình đẳng (Hoàng thân Souvanna Phouma từ phe trung lập, Hoàng thân Souphanouvong từ Mặt trận Yêu nước Lào [Neo Lao Hak Yat], và Hoàng tử Boun Oum và Tướng Phoumi Nosavan từ phân nhóm hữu khuynh).

Vào tháng 6 năm 1962, ba nhóm chính trị Lào đã đạt được thỏa thuận thành lập một chính phủ liên hiệp ở Lào. Đồng chủ tọa của hội nghị là đại diện của Liên Xô và Vương quốc Anh. Các Hiệp định Giơnevơ năm 1962 bao gồm Tuyên bố về Trung lập của Lào, một phần trong đó là Tuyên bố của Chính phủ Lào về Trung lập (ngày 9 tháng 7 năm 1962), và một nghị định thư, với điều kiện là những người tham gia hội nghị phải tôn trọng chủ quyền, độc lập, trung lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Lào.

Hoa Kỳ đã vi phạm một cách rõ ràng Hiệp định Geneva năm 1962 bằng cách viện trợ kinh tế và quân sự cho nhóm cánh hữu ở Lào trong các chiến dịch quân sự chống lại các lực lượng yêu nước của Lào, được phát động vào tháng 4 năm 1963. Hoa Kỳ xâm lược không gian Lào bắt đầu từ năm 1964 và ném bom các vùng lãnh thổ trong vùng giải phóng. Kết quả là, việc thực hiện dàn xếp chính trị nội bộ ở Lào bị xáo trộn, và chính phủ liên hiệp ngừng hoạt động. Tháng 2 năm 1971, quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn từ miền Nam Việt Nam xâm lược Nam Lào, nhưng họ đã bị các lực lượng Lào yêu nước ném trả. Vào tháng 2 năm 1973, một hiệp định được ký kết về việc lập lại hòa bình và đạt được sự đồng thuận quốc gia ở Lào.


Khủng hoảng Lào, 1960–1963

Cuộc khủng hoảng chính sách đối ngoại đầu tiên mà Tổng thống đắc cử John F.Kennedy phải đối mặt không tập trung ở Berlin, cũng không phải ở Cuba, cũng không phải ở các hòn đảo ngoài lục địa Trung Quốc, cũng không phải ở Việt Nam, cũng không phải ở bất kỳ điểm nóng nào được biết đến nhiều hơn của Lạnh. Chiến tranh nhưng không có đất liền, nghèo đói đã hoành hành ở Lào. Đây là vấn đề chính mà Kennedy và nhóm chính sách đối ngoại của ông - Ngoại trưởng Dean Rusk, Bộ trưởng Quốc phòng Robert S. McNamara, và Cố vấn An ninh Quốc gia McGeorge Bundy - tập trung vào trong những ngày dẫn đến lễ nhậm chức của Kennedy vào ngày 20 tháng 1 năm 1961.

Kennedy đã gặp Tổng thống Eisenhower một ngày trước khi ông nhậm chức với hai mục tiêu. Ông kỳ vọng cuộc họp sẽ “phục vụ một mục đích cụ thể trong việc trấn an công chúng về sự hài hòa của quá trình chuyển đổi. Do đó củng cố bàn tay của chúng tôi. ” Trọng tâm chính của ông là ở Lào. “Tôi rất lo lắng,” ông kể lại với thư ký của mình, “để nhận được một số cam kết từ chính quyền sắp mãn nhiệm về cách họ sẽ đối phó với Lào mà họ đang giao cho chúng tôi. Tôi đặc biệt nghĩ rằng sẽ rất hữu ích nếu có một số ý tưởng về việc họ đã chuẩn bị cho sự can thiệp như thế nào. "

Chính quyền Eisenhower đã để lại cho Kennedy một tình huống bối rối, phức tạp và khó chữa. Lào là nạn nhân của vấn đề địa lý: một nghiên cứu của RAND trong thời kỳ này đã tóm tắt quốc gia này là “Hầu như không phải là một quốc gia ngoại trừ về mặt pháp lý, Lào thiếu khả năng bảo vệ nền độc lập gần đây của mình. Nền kinh tế của nó chưa phát triển, năng lực hành chính còn sơ khai, dân số của nó bị chia cắt theo cả sắc tộc và khu vực, và tầng lớp tinh hoa của nó bị mất đoàn kết, tham nhũng và không đủ khả năng lãnh đạo ”. Nhưng trạng thái cực kỳ yếu ớt này là “nút chai trong chai”, như Eisenhower đã tóm tắt trong cuộc gặp với Kennedy, Tổng thống sắp mãn nhiệm đã kỳ vọng sự mất mát của nó là “sự khởi đầu của sự mất mát phần lớn vùng Viễn Đông”.

Chính quyền Eisenhower đã làm việc trong nhiều năm để tạo ra một pháo đài chống Cộng sản mạnh mẽ ở Lào, một bức tường thành chống lại Trung Quốc Cộng sản và Bắc Việt Nam. Mặc dù hấp dẫn trên bản đồ, nhưng chiến lược này hoàn toàn trái ngược với các đặc điểm của nhà nước và con người Lào. Đến năm 1961, Lào bị chia cắt về mặt chính trị, với ba phe tranh giành quyền kiểm soát. Hoa Kỳ đã hỗ trợ cho Tướng Nosavan Phoumi, người có lực lượng tham gia chiến đấu với lực lượng trung lập dưới quyền của Kong Le. Máy bay Liên Xô đang thực hiện nhiệm vụ tiếp tế cho lực lượng của Kong Le. Nhà lãnh đạo trung lập và cựu Thủ tướng Souvanna Phouma đã sống lưu vong ở Campuchia, nhưng vẫn có ảnh hưởng và hoạt động tích cực trong chính trường Lào. Người anh cùng cha khác mẹ của ông, Souphanouverong, lãnh đạo Pathet Lào do Cộng sản thống trị, đã thiết lập quyền kiểm soát trên một khu vực rộng lớn dọc theo biên giới Lào-Bắc Việt Nam. Lực lượng của Phoumi có ít sự ủng hộ của dân chúng, đã được chứng minh là không hiệu quả trong chiến đấu và dường như đang trên đường dẫn đến một thất bại quân sự.

Chính quyền Eisenhower đã dẫn đầu việc thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á cho chính xác loại trường hợp dự phòng này. Tuy nhiên, trong thử nghiệm lớn đầu tiên này, Hoa Kỳ đã không thể đảm bảo được sự hỗ trợ của liên minh cho sự can thiệp. Các cường quốc châu Âu lớn của nó, Anh và Pháp, coi Phoumi là một nhà cai trị bất hợp pháp và ủng hộ Souvanna Phouma, họ kiên quyết phản đối hành động quân sự ở Lào. Một phân tích liên ngành được chuẩn bị vào tháng 1 năm 1961 đã tóm tắt, “Vì SEATO được tạo ra để hành động trong những hoàn cảnh như hiện đang tồn tại ở Lào nhưng không hành động, nó gây nghi ngờ không chỉ về uy tín của chính mình mà còn về độ tin cậy của Hoa Kỳ với tư cách là người khởi xướng. . . . SEATO trở thành một phương tiện mà các đồng minh của chúng tôi áp đặt sự kiềm chế đối với chúng tôi. " Khi chính quyền Eisenhower đi đến những ngày cuối cùng, Hoa Kỳ phải đối mặt với viễn cảnh can thiệp quân sự đơn phương trong một nỗ lực tuyệt vọng để cứu vãn tình hình. Ngoài các vấn đề hậu cần rộng lớn liên quan đến sự can thiệp, sự can thiệp của các lực lượng Hoa Kỳ làm tăng nguy cơ đáng kể về một cuộc đối đầu quân sự giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.

Kennedy phải đối mặt với sự lựa chọn giữa hai chiến lược: theo đuổi một giải pháp quân sự, rất có thể yêu cầu sự can thiệp đơn phương của lực lượng Hoa Kỳ hoặc thích ứng với một sự thay đổi lớn trong chính sách, tìm kiếm một lệnh ngừng bắn và trung lập hóa Lào. Anh ta từ chối lựa chọn quân sự, mặc dù anh ta khuyến khích một cuộc tấn công của Phoumi được thiết kế để củng cố vị trí đàm phán của anh ta. Nó thất bại nặng nề. Kennedy mở cuộc họp báo vào ngày 23 tháng 3 năm 1961, với một cuộc thảo luận mở rộng về Lào, kêu gọi chấm dứt các hành động thù địch và đàm phán dẫn đến một nước Lào được trung lập và độc lập. Pathet Lào chấp nhận lời đề nghị ngừng bắn vào ngày 3 tháng 5. Sự trì hoãn này cho phép Quân đội Bắc Việt Nam (NVA) có thời gian để tiến hành một cuộc tấn công ở Nam Lào, chiếm được làng Tchepone và địa hình cần thiết để kéo dài Đường mòn Hồ Chí Minh đến phía Tây của dãy Trường Sơn trên biên giới giữa Lào và Nam Việt Nam. Lào là một chủ đề chính tại Hội nghị thượng đỉnh Vienna vào ngày 4 tháng 6, với việc Kennedy và Thủ tướng Liên Xô Nikita Khruschev nhất trí về mục tiêu chung là ngừng bắn, trung lập và một chính phủ liên minh như Khruschev tóm tắt, “câu hỏi cơ bản là đạt được thỏa thuận giữa các ba lực lượng ở Lào, để có thể bảo đảm sự hình thành một chính phủ thực sự trung lập. ” Kennedy coi Lào là một trường hợp thử nghiệm cho triển vọng hợp tác Mỹ-Xô, trong các lĩnh vực mà các siêu cường có thể đạt được các mục tiêu chung và tránh đối đầu.

Kennedy đã bổ nhiệm W. Averell Harriman làm Đại sứ tại Large trong những ngày đầu tiên cầm quyền của ông, và sau đó chính thức hóa vai trò chính sách của Harriman trong việc bổ nhiệm ông làm Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Viễn Đông vào tháng 11 năm sau. Harriman đã dẫn đầu trong việc dàn dựng chính sách của Mỹ đối với Lào khi một hội nghị quốc tế về Lào được triệu tập tại Geneva vào ngày 16 tháng 5. Mười bốn quốc gia tham gia bao gồm Liên Xô, Lào, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Bắc Việt Nam, Nam Việt Nam, Ba Lan, Hoa Kỳ, Pháp, Vương quốc Anh, Ấn Độ, Miến Điện, Campuchia, Canada và Thái Lan. Trong khi đó ba phe Lào tiến hành đàm phán về thành phần chính phủ liên hiệp. Đến tháng 3 năm sau, Harriman trở nên mất thiện cảm với Phoumi, và dứt khoát chuyển chính sách của Mỹ sang một chính phủ liên minh do Souvanna Phouma lãnh đạo. Các nhóm người Lào đã đạt được thỏa thuận về thành phần của chính phủ liên hiệp vào ngày 12 tháng 6 năm 1962, và hội nghị Giơnevơ đã đi đến thống nhất về Tuyên bố Trung lập của Lào vào ngày 23 tháng 7.

Những thỏa thuận này cung cấp cho một chính phủ liên minh ở Lào dưới thời Souvanna Phouma, với các vị trí nội các được phân bổ giữa ba phe phái. Tuyên bố về tính trung lập của Lào và các nghị định thư liên quan kêu gọi rút tất cả “quân đội chính quy và không thường xuyên nước ngoài, các lực lượng bán quân sự nước ngoài và quân nhân nước ngoài” dưới sự giám sát của Ủy ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế tại Lào (ICC) , bao gồm đại diện của Ấn Độ, Ba Lan và Canada. ICC sẽ hoạt động trên nguyên tắc nhất trí, một sự thay đổi so với thực tiễn của nó từ năm 1954 đến năm 1958, khi nó hoạt động theo nguyên tắc đa số. Việc hợp nhất và giải ngũ của ba quân đội Lào sẽ được tiến hành bởi chính phủ liên minh, không có ICC và các bên quốc tế khác giám sát hoặc thực thi các hoạt động quan trọng này.

Các thỏa thuận này nhanh chóng bị phá vỡ, để lại hậu quả lâu dài cho Lào và các nước láng giềng. Cộng quân đã tiến hành một cuộc triệt thoái tượng trưng 15 quân vào ngày 27 tháng 8, và vào ngày 9 tháng 10 Bắc Việt thông báo cho bộ ngoại giao Lào rằng quân của họ đã được rút theo hiệp định Genève. Tuy nhiên, Bắc Việt vẫn tiếp tục cố vấn, hậu cần và chiến đấu hỗ trợ Pathet Lào vi phạm các hiệp định. Bắc Việt Nam cũng tiếp tục mở rộng quyền kiểm soát lãnh thổ của mình ở Nam Lào để đảm bảo các tuyến hậu cần của họ đến các vùng chiến sự ở Nam Việt Nam. Hoa Kỳ đã rút các đội cố vấn quân sự của mình theo thỏa thuận Geneva, nhưng sau đó, họ đã đáp trả sự vi phạm của Bắc Việt bằng cách hỗ trợ các lực lượng Meo và Thái Lan, đồng thời cung cấp hỗ trợ kinh tế và quân sự cho chính phủ Phouma và quân đội của họ.


Tuyên bố Trung lập của Lào Ký tại Geneva - Lịch sử

Sau khi quân Nhật đầu hàng trong Thế chiến thứ hai, người Pháp đã cố gắng tái khẳng định quyền thống trị đối với Lào và phần còn lại của Đông Dương thuộc Pháp, bao gồm Việt Nam và Campuchia. Phong trào dân tộc chủ nghĩa Cộng sản Lào, Pathet Lào, là đồng minh của người Việt Nam trong cuộc đấu tranh với Pháp. Sau khi người Pháp bị đánh bại bởi người Việt Nam, Hiệp định Genève năm 1954 xác lập chủ quyền của Lào. Tuy nhiên, nội chiến nhanh chóng nổ ra khi chính phủ Hoàng gia Lào, được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, đã chiến đấu với quân nổi dậy Pathet Lào, được hỗ trợ bởi những người Cộng sản ở láng giềng Bắc Việt Nam.

Chính phủ Eisenhower đã cam kết viện trợ hàng triệu đô la và các đội cố vấn quân sự để ngăn chặn việc xâm chiếm Lào của Pathet Lào. Không lâu trước khi John F. Kennedy nhậm chức, Tổng thống Eisenhower đã cảnh báo người kế nhiệm rằng nỗ lực này đang trên đà thất bại và quân đội Mỹ có thể cần phải can thiệp.

Kennedy di chuyển một cách thận trọng. Ông từ chối nhiều đề xuất cử lực lượng Mỹ và kết luận rằng một thỏa thuận thương lượng với Liên Xô và các bên quan tâm khác là điều tốt nhất mà ông có thể đạt được. Một hội nghị hòa bình năm 1962 tại Geneva đã đưa ra Tuyên bố về Trung lập của Lào và một chính phủ liên hiệp gồm ba phần được chia thành các phe thân Mỹ, thân Cộng sản và trung lập. Theo quan điểm của Washington, thỏa thuận này là mỏng manh, nhưng nó là lựa chọn tốt nhất trong số các lựa chọn kém hấp dẫn.

Ngay sau khi đạt được hiệp định, cuộc nội chiến lại tiếp tục. Khi sự can dự quân sự của Mỹ vào Việt Nam ngày càng tăng, Lào trở thành một chiến trường khác trong khu vực đó. Chạy qua miền đông Lào, đường mòn Hồ Chí Minh là tuyến đường tiếp tế quan trọng của Bắc Việt cho các lực lượng Cộng sản ở miền Nam Việt Nam. Để làm gián đoạn dòng tiếp tế, Hoa Kỳ đã ném bom các vùng của Lào trong gần một thập kỷ, cho đến khi đạt được thỏa thuận ngừng bắn vào năm 1973. Năm 1975, Pathet Lào nắm quyền kiểm soát đất nước.


Chia sẻ tài liệu

HTML tiếng Anh

Mức độ bảo mật: Tối mật

Văn bản Bộ Ngoại giao


Ghi âm cuộc trò chuyện giữa Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô [Georgiy Maksimovich] Pushkin và Đại sứ Liu Xiao


& mdash Liên quan đến Nhóm đại diện Liên Xô tham dự Công ước Geneva và các vấn đề tương tự & mdash

[Georgiy Maksimovich] Pushkin: [& hellip] Trước tiên, chúng tôi tin rằng trên thực tế, Bắc Kinh, Hà Nội và Warsaw thực sự đồng ý rằng trong hội nghị này, chúng ta nên tận dụng tình hình ở Lào để đi đến kết luận có lợi nhất sự củng cố và phát triển sức mạnh của nhân dân Lào. Nếu chúng ta tiếp cận nó từ góc độ này, chúng tôi tin rằng chúng tôi sẽ có thể đạt được một thỏa thuận với các cường quốc phương Tây.

Thứ hai, vấn đề Lào liên quan đến các vấn đề có hai bản chất: trong nước và quốc tế. Các vấn đề thuộc phạm trù trong nước sẽ không được thảo luận tại hội nghị này. Những vấn đề này bao gồm: những vấn đề liên quan đến tổ chức của chính phủ Lào, việc tổ chức lại quân đội, quyền đại diện của ba đảng chính trị, bầu cử, v.v. trong các lĩnh vực xúc tiến và viện trợ. Các vấn đề có tính chất quốc tế bao gồm: tính trung lập của Lào, bảo hiểm ở đó, việc loại bỏ quân nhân và quân nhân nước ngoài, ngăn chặn sự can thiệp vào chính trị nội bộ của Lào, v.v. Có rất nhiều vấn đề mang tính chất này. Tất nhiên, những vấn đề thuộc thẩm quyền của Ủy ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đôi khi cũng thuộc loại này và có thể được thảo luận.

Tuy nhiên, có một số vấn đề thuộc cả hai loại đồng thời. Nếu họ đưa ra, thì chúng ta có thể thảo luận về họ. Ví dụ, các vấn đề liên quan đến ngừng bắn. Đây là một vấn đề trong nước vì nó đòi hỏi phải đàm phán và đạt được thỏa thuận giữa các bên liên quan ở Lào, nhưng Ủy ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế nên cung cấp sự giám sát đối với việc thực thi hiệp ước. Một ví dụ khác là các vấn đề liên quan đến một cuộc bầu cử. Đây đáng ra là một vấn đề trong nước, nhưng nếu tất cả các bên bày tỏ mong muốn một ủy ban quốc tế giám sát cuộc bầu cử, thì chúng ta có thể thảo luận và đặt ra trách nhiệm của ủy ban đó. Có một loạt các vấn đề liên quan đến điều này.

Đối với câu hỏi về tính trung lập của Lào, chúng tôi hy vọng rằng chúng tôi sẽ có thể thông qua một văn bản đảm bảo tính trung lập vĩnh viễn của Lào trong hội nghị, được ký kết không chỉ bởi Lào mà tất cả các quốc gia tham gia. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã đoán trước được một tình huống khác, một tình huống mà [Souvanna] Phouma đã bày tỏ trước đây. Lào có thể không sẵn sàng bị ép buộc vào một hiệp ước trung lập, nhưng thà đưa ra tuyên bố trung lập của riêng mình. Ông hy vọng rằng Lào sẽ có thể tuyên bố trung lập trong một tài liệu tương tự như tài liệu do Áo xuất bản. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng trong những trường hợp này, chúng tôi phải đưa tuyên bố trung lập của họ và các tài liệu liên quan vào những kết quả từ Hội nghị Geneva. Bằng cách này, không chỉ Lào sẽ bị buộc phải duy trì tính trung lập của mình, mà tất cả các quốc gia tham gia sẽ bị buộc phải tôn trọng tính trung lập của mình. Bằng cách này, họ sẽ không phải tự đưa ra tuyên bố trung lập.

Đối với một số vấn đề quân sự, có một số vấn đề mang tính chất này. Trên thực tế, chúng có liên quan đến việc bảo đảm tính trung lập của Lào, ví dụ như việc loại bỏ các căn cứ quân sự và loại bỏ quân đội nước ngoài. Về mặt này, chúng tôi nghĩ rằng một số nghị quyết nên được thông qua và tạo thành một tài liệu, một phần trong đó phải bao gồm định nghĩa về phạm vi quyền tài phán của Ủy ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế trong vấn đề này.

Bên cạnh đó, cũng có một số vấn đề mang tính chất thủ tục.

Theo ý kiến ​​của các đồng chí Trung Quốc, chúng tôi cho rằng hội nghị này nên được nối với hội nghị trước. Công ước Giơnevơ năm 1954 là cơ sở cho việc củng cố và phát triển sức mạnh của nhân dân Lào.

Chúng tôi nghĩ rằng, liên quan đến câu hỏi ai sẽ chủ trì hội nghị, chúng tôi có thể đồng ý với đề xuất của Anh rằng hội nghị do họ và Liên Xô chủ trì. Nếu chúng tôi thay đổi số ghế lần này, thì chắc chắn sẽ có những người kêu gọi thêm một quốc gia trung lập, và họ sẽ đề nghị Ấn Độ. Trong khi Ấn Độ thể hiện sự trung lập, trên thực tế, họ không trung lập chút nào về mặt chính trị. Đồng thời, nếu điều này được đưa ra, chúng tôi không thể phản đối nó một cách thuận tiện vì chúng tôi đã thúc đẩy các bên trung lập thứ ba được bổ sung vào Chủ tịch của một số tổ chức và công đoàn quốc tế. Chúng tôi cũng cảm thấy việc Anh duy trì là một trong những Chủ tịch là phù hợp và có lợi cho chúng tôi vì Anh & rsquos lập trường về vấn đề Lào xung đột với Hoa Kỳ và một số nước phương Tây khác. Anh sẵn sàng giải quyết vấn đề hơn. Họ đã bày tỏ sự không hài lòng với việc Mỹ không coi thường chính phủ của Phouma, tin rằng họ đã tạo ra một tình huống thậm chí còn tồi tệ hơn cho các nước phương Tây bằng cách phi tang xác anh ta. Họ thường xuyên càu nhàu về nước Mỹ về điều này. Đề xuất của Anh có một số thông minh vì Anh không phải lúc nào cũng sẵn sàng lắng nghe Mỹ về một số vấn đề. Từ những cuộc trò chuyện cá nhân của tôi với đại sứ Anh, tôi tin rằng người Anh có xu hướng linh hoạt hơn, dễ thuyết phục hơn và sẵn sàng nhường đường hơn. Đôi khi, về những vấn đề mà ông có thể thảo luận trước với Mỹ, thay vào đó, ông đồng ý ngay lập tức. Đánh giá những tình huống như vậy, đôi khi Anh sẽ hành động độc lập vì lợi ích của mình hơn là thảo luận với Mỹ trước. Có lẽ sau khi họ bày tỏ sự đồng ý và quay lại thảo luận với Mỹ, họ sẽ nhấn mạnh những khó khăn và lý do đồng ý của chính họ.

Đối với câu hỏi của Ủy ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế, chúng tôi đã suy nghĩ về việc liệu có nên thay đổi các thành viên của ủy ban hay không, có nên xem xét khía cạnh khác hay không: Giới hạn quyền tài phán của ủy ban. và khiến họ không thể can thiệp vào chính phủ Lào trong bất kỳ trường hợp nào. Đây là một nhiệm vụ to lớn và chúng tôi nghĩ rằng quyết định của chúng tôi sẽ có lợi cho việc phát triển sức mạnh của nhân dân Lào. Nếu vấn đề này được đưa ra, chúng tôi có thể đề xuất hai cách hành động: ủy ban có thể bao gồm hai thành viên từ mỗi nước xã hội chủ nghĩa, đế quốc và trung lập hoặc đại diện từ các quốc gia xã hội chủ nghĩa và đế quốc, mỗi quốc gia có thể đề cử hai người và các quốc gia trung lập có thể đề cử một. Các vấn đề liên quan vẫn có thể được thảo luận.

Liên quan đến câu hỏi ai sẽ đại diện cho Lào, lập trường của chúng tôi tất nhiên là chính phủ của Phouma nên được công nhận là chính phủ hợp pháp duy nhất ở Lào. Chỉ chính phủ này mới có thể đại diện cho Lào, nhưng phái đoàn đại diện của nó có thể bao gồm các thành viên của các quyền lực chính trị khác, chẳng hạn như Mặt trận Yêu nước Lào, hoặc các thành viên của phe nổi dậy.

Nói về các chính phủ hợp pháp, vì có một số thành viên của chính phủ Phouma đã tham gia vào cuộc nổi dậy, chúng tôi muốn đề cập rằng thuật ngữ & ldquolegal Government & rdquo dùng để chỉ Phouma và những thành viên nội các chống lại cuộc nổi dậy. Chúng ta nên nghĩ về những gì chúng ta sẽ làm nếu Mỹ đồng ý công nhận chính phủ của Phouma nhưng nhấn mạnh rằng nó phải bao gồm các thành viên ban đầu. Khả năng này chắc chắn không nằm ngoài nghi vấn. Nếu điều này xảy ra, thì chính phủ Phouma sẽ bao gồm một phe nổi dậy lớn chiếm đa số và sẽ không có đại diện của Mặt trận Yêu nước. Điều đó thật nguy hiểm cho chúng tôi. Trước tình hình này, chúng tôi phải duy trì rằng nên có các thành viên Mặt trận Yêu nước hoặc một bên thứ 3 tham gia vào chính phủ của Phouma.

Chúng tôi đã nhận được tin từ Hà Nội nói rằng các đồng chí Việt Nam của chúng tôi hy vọng chúng tôi đã chiến thắng và chiến đấu quên mình vì sự đại diện của Mặt trận Yêu nước. Họ hy vọng rằng hai quốc gia chủ trì sẽ gửi lời mời. Liên quan đến vấn đề này, chúng tôi cũng đã nghĩ đến nó. Anh sẽ không đồng ý đưa ra lời mời cho Mặt trận Yêu nước thay mặt cho cả hai quốc gia chủ trì. Họ sẽ không bị thuyết phục. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn sẽ chiến đấu vì nó. Chiều nay đại sứ Anh đã đến nói chuyện với tôi. Lúc đầu tôi đã nghĩ ra cách sau đây để đưa ra vấn đề này: Nếu chúng ta không cho phép chính phủ hợp pháp cử phái đoàn của riêng mình, thì chúng ta nên mời một thế lực chính trị thứ 3 tham gia vào hội nghị. Tất nhiên, câu hỏi về việc họ có tham gia hội nghị sẽ được thảo luận trong chính hội nghị, nhưng khi chúng ta nói về điều đó, những đại diện này có thể đợi ở Geneva, nếu không việc đến của họ sẽ rất lãng phí thời gian. Bên cạnh đó, tôi vẫn muốn nói một cách tế nhị với đại sứ Anh rằng ông ấy nên lưu ý về vấn đề tham dự của Mặt trận Yêu nước. Tôi không đưa ra những điều này với hy vọng rằng anh ấy sẽ đồng ý ngay lập tức, nhưng ít nhất tôi muốn khiến anh ấy bày tỏ sự đồng ý dù chỉ một chút và sau đó làm ầm ĩ lên những điều nhỏ nhặt. Chúng tôi nhận thức được rằng nếu chúng tôi chiến đấu hết mình vì điều này, chúng tôi nhất định sẽ giành được khả năng cho phép Mặt trận Yêu nước tham dự hội nghị và cho phép họ đợi ở Geneva, Praha, hoặc Moscow. Đối với các đại diện từ phe nổi dậy, các cường quốc phương Tây chắc chắn sẽ đưa họ đến Thụy Sĩ. Nó khá thuận tiện cho họ. Nếu họ không cho phép các đại diện của Mặt trận Yêu nước tham dự, thì chắc chắn chúng tôi sẽ phản đối sự tham dự của những người nổi dậy.

Ủy ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã tổ chức một cuộc họp tại Đức và thông qua một nghị quyết chỉ cho phép hai quốc gia chủ trì. Người Anh và chúng tôi đã nhận được báo cáo này và chúng tôi hiện đang nghiên cứu với người Anh và thảo luận về câu hỏi về hướng dẫn của ủy ban đó. Trước khi các đại diện của Ba Lan sang Đức, tôi đã nói chuyện chi tiết với họ và nói với họ những vấn đề nào chúng ta phải giữ vững và chúng ta có thể linh hoạt về những vấn đề nào. Có vẻ như các đồng chí Ba Lan của chúng tôi đã làm tốt ở đó. Cuộc họp này đã được thực hiện rất tốt và chỉ có một số nơi diễn ra ít hơn mức lý tưởng, nhưng đó không phải là vấn đề lớn. Đại sứ quán Anh không hài lòng với báo cáo mà họ đưa ra về các bản thảo hướng dẫn. Trong quá trình thảo luận, chúng tôi phản đối ý tưởng thông qua hai tài liệu và cuối cùng họ đồng ý chỉ thông qua một tài liệu. Tôi đã chỉ ra với họ rằng các bản nháp quá dài và tẻ nhạt và một số chi tiết có thể bị loại bỏ. Chúng tôi sẽ tiếp tục đàm phán ngày hôm nay. Tôi ước tính rằng hôm nay chúng ta có thể giải quyết câu hỏi về hướng dẫn của khoản hoa hồng. Nếu vậy, ngày mai ban tổ chức có thể lên đường sang Lào. Sau khi mọi việc được giải quyết liên quan đến báo cáo và hướng dẫn của ủy ban, chúng tôi sẽ thông báo ngay cho Bắc Kinh.

Đại sứ Anh hỏi tôi có biết Sihanouk đã bày tỏ rằng anh ấy sẽ không tham dự hội nghị này không, và tôi nghĩ gì về điều đó. Tôi trả lời rằng 14 nước trừ 1 bằng 13. Tôi không có ý kiến ​​khác. Sau đó, tôi trả lời: & quot Tôi nên hỏi bạn cảm thấy thế nào về điều đó, vì anh ấy không phải là khách của chúng tôi mà là của bạn. & Quot Đại sứ ngay lập tức trả lời rằng hành vi gần đây của Sihanouk không liên quan gì đến Anh. Tôi đã nói, nếu nó thực sự không liên quan đến bạn, thì nó chắc chắn có liên quan đến đồng minh của bạn. Có vẻ như nước Anh hơi khó chịu với Sihanouk và họ sợ rằng chúng tôi sẽ xem xét lại việc tổ chức hội nghị về vấn đề này.

Đại sứ Liu [Xiao]: Bạn nghĩ gì về tuyên bố của Sihanouk?

Pushkin: Thật trẻ con! Hành vi của anh ấy không nghiêm túc chút nào, anh ấy đang đóng vai một chú hề! Đây là tình huống: Quốc vương Lào cảm thấy khó chịu vì sức mạnh của Mặt trận Yêu nước Lào đang tăng lên liên tục. Anh ta nghĩ ra một số thủ thuật. Anh ta muốn tổ chức một hội nghị vào ngày 1, giải tán chính phủ và tổ chức một chính phủ mà không có sự tham gia của Phouma. Nó dường như cũng có một số người tham gia không tham gia vào cuộc nổi loạn. Trên thực tế, họ cũng là người của anh ấy. Anh ấy đã gây áp lực lên Sihanouk, và Sihanouk có thể đã đồng ý với một số đề nghị của anh ấy, anh ấy có thể đã làm một số điều dại dột dưới áp lực đó. Tuy nhiên, điều này không quan trọng, hội nghị vẫn có thể được tổ chức đúng giờ. Việc anh ấy từ chối tham gia sẽ không ảnh hưởng đến hội nghị. Chúng tôi có thể để dành ba chỗ cho họ mà họ có thể chiếm nếu họ muốn.

Đại sứ Lưu: Theo thông tin mới nhất, thái độ của Mỹ đối với Hội nghị Geneva như thế nào?

Pushkin: Mỹ đã tuyên bố rằng họ sẽ tham dự hội nghị. Không có thông tin mới hơn.


Hiệp định quốc tế về trung lập của Lào

Các Hiệp định quốc tế về trung lập của Lào là một hiệp định quốc tế được ký kết tại Geneva vào ngày 23 tháng 7 năm 1962 giữa 14 quốc gia trong đó có Lào. Đó là kết quả của Hội nghị quốc tế về giải quyết câu hỏi của người Lào kéo dài từ ngày 16 tháng 5 năm 1961 đến ngày 23 tháng 7 năm 1962.

Miến Điện, Campuchia, Canada, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Pháp, Ấn Độ, Ba Lan, Việt Nam Cộng hòa, Thái Lan, Liên Xô, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ đã ký một Tuyên bố cùng với tuyên bố trung lập của Chính phủ Hoàng gia Lào ngày 9 tháng 7 năm 1962, có hiệu lực như một thỏa thuận quốc tế vào ngày ký 23 tháng 7 năm 1962. [1]

14 nước ký kết cam kết tôn trọng sự trung lập của Lào, không can thiệp - trực tiếp hoặc gián tiếp - vào công việc nội bộ của Lào, và kiềm chế không lôi kéo Lào vào liên minh quân sự hoặc thiết lập các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Lào. Chính phủ Lào cam kết sẽ ban hành các cam kết theo hiến pháp và có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên, thỏa thuận đã bị vi phạm khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập đường tiếp tế qua lãnh thổ Lào "trung lập" để cung cấp cho lực lượng nổi dậy Việt Cộng chống lại chính phủ miền Nam Việt Nam.

Đặc biệt hơn, trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, miền Bắc Việt Nam đã có được sự hợp tác của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (Pathet Lào) trong việc xây dựng và duy trì Đường mòn Hồ Chí Minh xuyên suốt chiều dài của Lào. Hàng nghìn bộ đội Việt Nam đã đóng quân tại Lào để duy trì mạng lưới đường bộ và bảo đảm an ninh cho nước này. Các quân nhân Việt Nam cũng đã chiến đấu bên cạnh Pathet Lào trong cuộc đấu tranh lật đổ chính phủ trung lập của Lào. Hợp tác vẫn tồn tại sau chiến tranh và chiến thắng của cộng sản Lào.


Tùy chọn phân kỳ

Harrison Manlove là một Thiếu sinh quân trong Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Dự bị của Quân đội Hoa Kỳ tại Đại học Kansas và hiện đang theo học các Nghiên cứu về Lịch sử, Hòa bình và Xung đột. Harrison cũng đã viết cho The Strategy Bridge, nơi ông xem xét chiến lược của Nga ở Syria và Trung Đông. Nội dung của Divergent Options không chứa thông tin có tính chất chính thức cũng như không đại diện cho quan điểm chính thức của bất kỳ chính phủ, tổ chức nào hoặc bất kỳ nhóm nào.

Tiêu đề: Đánh giá về Nỗ lực Chống nổi dậy của Hoa Kỳ ở Lào 1954-1962

Ngày viết ban đầu: Ngày 21 tháng 6 năm 2019.

Ngày xuất bản ban đầu: Ngày 30 tháng 9 năm 2019.

Tác giả và / hoặc Quan điểm của Tác giả: Bài báo này được viết theo quan điểm của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ sau Hiệp định Genève 1962 nhằm xác định tính hiệu quả của các chương trình ở Lào và việc sử dụng chúng trong các hành động chính sách đối ngoại trong tương lai.

Tóm lược: Từ năm 1954-1962, việc triển khai các đội Lực lượng Đặc biệt của Quân đội Hoa Kỳ, các sĩ quan Cục Tình báo Trung ương, viện trợ kinh tế và quân sự đã ngăn chặn sự tiếp quản của cộng sản đối với Lào, một quốc gia được coi là chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á. Một nước Lào thân Tây đã được mong muốn dưới thời Eisenhower, nhưng việc chuyển đổi sang một chính phủ liên minh trung lập cuối cùng đã được chính quyền Kennedy ủng hộ để giữ cho Lào không trở thành một chỗ đứng của Cộng sản ở Đông Dương.

Chữ: Chống nổi dậy (COIN) có thể được định nghĩa là các hành động của chính phủ nhằm chống lại “việc sử dụng có tổ chức các hoạt động lật đổ và bạo lực để chiếm đoạt, vô hiệu hóa hoặc thách thức quyền kiểm soát chính trị của một khu vực [1]”. COIN của Hoa Kỳ tại Lào có trọng tâm bao gồm: xây dựng năng lực của Lực lượng Armées du Royaume (FAR) & # 8211 Lực lượng vũ trang Hoàng gia Lào, đào tạo một lực lượng bán quân sự hàng nghìn người Hmong, các gói viện trợ kinh tế và quân sự, và đánh bại quân nổi dậy các mối đe dọa bên trong Lào. Mặc dù có ít giá trị chiến lược, cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương đã thuyết phục chính quyền Eisenhower rằng Lào có thể là ‘quân cờ domino’ tiềm năng đầu tiên khiến Campuchia, Thái Lan và Việt Nam rơi vào tay chủ nghĩa cộng sản [2].

Năm 1954, viện trợ kinh tế bắt đầu đổ vào Lào thông qua Phái bộ Hoạt động Hoa Kỳ (USOM) có trụ sở tại Viêng Chăn [3]. Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã đưa cuộc chiến đấu kết thúc (tương đối), thành lập một nước Lào độc lập và trung lập, đồng thời ra lệnh rút các đơn vị quân đội Pháp và các phần tử Việt Minh, chỉ để lại một lực lượng nhỏ của Pháp để huấn luyện FAR. Pathet Lào, một tổ chức và phong trào chính trị cộng sản ở Lào, sẽ chuyển về phía đông bắc để cuối cùng giải ngũ [4].

The Programs Evaluation Office (PEO) was established in 1955 as an element of USOM to facilitate defense aid to the FAR, supporting the fight against the Pathet Lao and the North Vietnamese Army (NVA) presence in northeastern Laos. Laotian neutrality meant the PEO was staffed and led by civilians who were almost all former military[5]. The Vientiane Agreements, signed in 1957, incorporated the Pathet Lao into the FAR. However, a 1959 coup conducted by Laotian General Phoumi Savanna signaled the continued tenuous situation in Laos[6].

In 1959 U.S. Army Special Forces (SF) personnel deployed to Laos as part of Project Hotfoot to train FAR personnel. Hotfoot was spread across the five military regions within Laos. Led by U.S. Army Lieutenant Colonel Arthur ‘Bull’ Simons of the 77th Special Forces Group, training responsibilities for Hotfoot were divided in two. “France would provide the tactical training to Laotian forces while non-uniformed U.S. SF would equip and provide technical training[Emphasis in original][7].” Hotfoot transitioned and expanded after Kennedy took office.

In August 1960, Laotian Captain Kong Le led an FAR airborne battalion to Vientiane in a coup against the Royal Lao Government (RLG) to form a neutralist government. Lack of pay and the burden of continuous operations led to the coup[8]. While U.S. efforts under Hotfoot became Operation White Star in 1961, SF began Operation Pincushion, a training program for the Kha tribal areas with village defense units each up to 100 strong[9]. The PEO also became a Military Assistance Advisory Group with personnel donning uniforms, signaling the transition to an overt military presence[10]. During French rule the Auto Defense Choc (ADC), or self defense units, were established at the village level and filled by local populations. CIA began a covert operation, called Momentum, to build off the ADC program and establish a large paramilitary force of ethnic Hmong to fight the Pathet Lao insurgents and Kong Le’s forces[11].

Vang Pao was a Hmong officer in the FAR who had earlier received assistance from SF to create an irregular Hmong force. In 1961, CIA paramilitary officer James W. Lair approached Vang Pao to expand the operation which became Momentum. The second White Star rotation in the spring of 1961 became part of Momentum. The operation would equip and train nearly 10,000 recruits who proved extremely effective in the field[12].

CIA used its proprietary airline – Air America – to support operations taking place throughout Laos. H-34 helicopters (replacing the weaker H-19), C-46, C-47, C-123 transport aircraft, and single-engine short take-off and landing aircraft provided airlift capabilities to CIA officers moving throughout the country, and FAR and Hmong units who received supplies through airdrops[13].

U.S. activities were critically challenged by Pathet Lao radio broadcasts (with Soviet support) which “were convincingly portraying the U.S. as obstructing peace and neutrality in Laos (while downplaying their own efforts to do so)[14].” The U.S. Information Agency field office in Laos “had two main objectives: improve the credibility of the Laotian government in the eyes of the population, and counter-Communist propaganda[15].” Small radios were distributed to provide pro-government messages in the Lao language, which was limited by the various local dialects around the country. In 1961 the U.S. Army deployed the 1st Psychological Warfare Battalion consisting of 12 men, whose “primary role was augmenting the U.S. Information Service (USIS).” and their under-resourced staff[16].

Under U.S. policy from 1954-1962, COIN efforts to support the RLG were a relative success. In 1962 a neutralist-majority coalition government was formed including rightists (from the RLG) and members of the Pathet Lao. The 1962 Geneva Accords again declared Laotian neutrality and barred any re-deployment of foreign forces to Laos. Fighting had slowed, but the Kennedy administration was disappointed with the political result. Neutrality was not a complete policy failure for the Kennedy administration, as a communist government would not be in place[17]. In accordance with the agreement SF teams withdrew from Laos, while Air America flights slowed[18]. However, future American operations would be covert, and conducted primarily by the CIA beginning after the coalition collapse in 1964 to the Pathet Lao defeat of the RLG in 1975.

From a policy perspective, the American commitment to Laos was consistent with containment and halting the global spread of communism. The covert nature of U.S. operations reflected not only the declarations of neutrality by the RLG, but the larger possibility of U.S. embarrassment on the domestic and world stages if U.S. objectives did fail. Even with no discernible strategic interests in the region, particularly Laos, “National prestige was, as always, closely linked to its apparent success or failure in foreign policy[19].”

[1] United States, Joint Chiefs of Staff. (2018). Joint Publication 3-24 Counterinsurgency (p. ix)

[2] Mcnamara, R. S. (1996). In retrospect. Random House Usa. (pp. 35-37)

[3] Leeker, J. F. (2006). Air America in Laos II – military aid (p. 1, Rep.). Phần I

[4] Adams, N. S., & McCoy, A. W. (1970). Laos: War and revolution. New York: Harper & Row. (p. 128). United Nations. (1954). Agreement on the Cessation of Hostilities in Laos 20 July 1954.

[5] Castle, T. N. (1991). At war in the shadow of Vietnam: United States military aid to the Royal Lao government, 1955-75 (Doctoral dissertation).

[6] Adams, N. S., & McCoy, A. W. (1970). Laos: War and revolution. New York: Harper & Row. (p. 147).


Blood on His Hands: JFK’S Costly Blunders

Although Vietnam War historians have been quick to criticize Presidents Dwight D. Eisenhower, Lyndon B. Johnson and Richard M. Nixon for their errors in strategy, policy and judgment regarding America’s involvement in the war, John F. Kennedy often gets a “pass”—his name seldom appears on the “short list” of presidents who “lost” Vietnam. Geoffrey Shaw’s The Lost Mandate of Heaven, however, makes a solid case that Kennedy and his top advisers—particularly W. Averell Harriman’s influential State Department clique—orchestrated “a political disaster that led America into a protracted and costly war.” Shaw’s book reveals Kennedy’s disastrous blunders that may have lost the Vietnam War before the United States began fighting it in earnest.

As its subtitle promises, Shaw’s book principally focuses on the Kennedy administration’s “betrayal” and collusion—at the very least its acquiescence—in the Nov. 1-2, 1963, military coup that resulted in the assassination of South Vietnamese President Ngo Dinh Diem.

Shaw’s image of Diem, based on extensive research, original sources and declassified documents, sharply contrasts with the widely accepted view of South Vietnam’s first president. Diem has typically been portrayed as a corrupt despot who, stubbornly ignoring American advice, mercilessly persecuted the country’s Buddhist majority in favor of his fellow Catholics. Critics also pointed to his heavy-handed rule, which alienated South Vietnam’s population and increased the risk that the war would be lost to North Vietnamese–sponsored Communist guerrillas. According to this conventional view—notably, as Shaw shows, relentlessly promoted at the time by Saigon’s American press corps, which despised Diem—the South Vietnamese president had to go and therefore the Kennedy administration justifiably colluded in his removal.

Shaw presents Diem as a dedicated leader of integrity, a popular Vietnamese nationalist deeply committed to his Catholic faith’s tenets, firmly resolved not only to protect his country against North Vietnamese aggression but also to resist becoming merely a figurehead and pawn of the Americans. Calling Diem’s murder “a mistake of unparalleled proportion,” Shaw asserts that it robbed South Vietnam of the only leader whose fame, stature and nationalist credentials rivaled those of the North’s Ho Chi Minh. No subsequent South Vietnamese leader proved capable of inspiring the country’s population with the fervor necessary to successfully resist North Vietnam.

Even if you are unswayed by Shaw’s revisionist presentation of Diem’s character and leadership, you have to question the Orwellian logic of the Kennedy administration’s support for his removal: Led by the Harriman faction, Kennedy’s top advisers concluded that Diem was not “democratic enough” to suit them, so they colluded in a bloody coup d’état that murdered Diem and replaced his elected government with a military dictatorship! The Kennedy administration’s complicity in the military cabal’s coup was hardly a shining example of democracy in action. Even North Vietnam’s leadership was astonished that the United States had conspired to eliminate the South Vietnamese leader the Communists most feared.

Shaw also recounts another inexcusable Kennedy blunder that arguably was his administration’s worst mistake directly influencing the war: the egregiously inept decision binding the United States by international treaty to officially honor the “neutrality” of Laos. Signed in Geneva on July 23, 1962, by the United States and 14 other nations—notably North Vietnam and its principal Communist supporters, China and the Soviet Union, who enthusiastically approved it—the one-sided treaty, based on “unenforceable neutrality,” was a farce from inception.

Hanoi immediately violated the agreement, sending thousands of North Vietnamese Army troops (joining Laotian Communist allies, the Pathet Lao) to occupy Laos’ entire eastern half and construct the extensive logistical network, known as the Ho Chi Minh Trail, which was vital for North Vietnam’s prosecution of the war. North Vietnam had maintained logistical routes and bases in Laos since at least 1958 to supply Viet Cong guerrillas in South Vietnam.

It is hardly an exaggeration to state that every American killed in ground combat in South Vietnam during the war died from a bullet, rocket-propelled grenade, mortar round, artillery shell or hand grenade brought south via the Ho Chi Minh Trail. There was no other practical means for Hanoi to get the instruments of death south other than through “neutral” Laos.

Thanks to Kennedy’s unconscionably foolish Laos treaty—“forged by Harriman,” Shaw points out—North Vietnam had free rein to exploit this monumental advantage. Although the United States bombed the Laotian trails, the massive effort was disappointingly ineffectual. And the ill-fated 1971 Laos incursion by U.S.-supported South Vietnamese ground troops proved far too little and much too late.

Shaw’s insightful book shows that Vietnam War historians must stop giving Kennedy a pass. Clearly, Kennedy has blood on his hands—Diem’s and that of an untold number of American GIs.

First published in Vietnam Magazine’s August 2016 issue.


Presidents and the Vietnam War

The road that led to the Vietnam War started before World War II even ended. Franklin Roosevelt supported national self determination in Indochina and was apposed to France reclaiming its former colonies after the war, but when Roosevelt died, and Harry Truman became president, that support died with him. State Department officials in Asia warned Truman that French rule of Vietnam would lead to “bloodshed and unrest”. Truman did not share his Roosevelt’s anti-colonialism and ultimately accepted France’s reestablishment it’s prewar empire. Truman thought that by retaking Indochina, France would shore up it’s economy and buoy its national pride. At the 1945 Potsdam conference in Germany, the Allies agreed that France was the rightful owner of French Indochina, and they would help the French re-establish control over their former colonial possession. Once the Soviet Union and Communist China started aiding North Vietnam, Truman started funding the French war effort.

By the time Dwight Eisenhower became president, the United States already had advisors in Vietnam and they were paying over half of the cost for France’s war there. When the French were on the brink of collapse in Indochina at Dien Bien Phu they begged the United States to intervene. Most of Eisenhower’s advisors wanted him to enter the war, some even suggested the use of nuclear weapons to save the French. Eisenhower was dead set against going to war in Vietnam, stating “This war in Indochina would absorb our troops by divisions!” After France’s failure at Dien Bien Phu, the 1954 Geneva Accords were signed that split Vietnam along the 17th parallel. Elections were supposed to take place to reunify Vietnam, but Ho Chi Minh would not allow any monitoring of elections in the north, even refusing the United Nations. Knowing that the communist barring the UN from monitoring elections in the north was likely a pretense for fraud, South Vietnam decided to not hold elections on the referendum. Eisenhower continued to aid South Vietnam in their struggle against the Communist North, but he bequeathed to John Kennedy pretty much the same situation in Vietnam that Truman left to him. Eisenhower wisely stayed out of war in Vietnam, unfortunately those that followed him weren’t as wise.

Though not a part of Vietnam, the country of Laos held the key to it’s defense. It bordered both North and South Vietnam to its east. During the Eisenhower administration the United States government had been sending aid to Laos to keep it from falling under Communist control. Kennedy failed to see the importance that Laos played in Vietnam’s defense and he agreed to the Declaration on the Neutrality of Laos, which created a three party coalition government of Laos. The United States withdrew support from Laos as part of the agreement, but North Vietnam soon broke the agreement, which eventually led to the fall of Laos to Communism. The loss of Laos to communism allowed North Vietnam to set up the Ho Chi Minh trail, which allowed communist troops and aid to flow through the back door into South Vietnam.

Whereas Eisenhower was smart enough to buck his military aides and avoid sending combat troops, Kennedy listened to his military aides, and sent the first combat troops to Vietnam under the guise that they were “advisors”. Kennedy increased the presence in South Vietnam from 800 advisors to 16,000 troops by the time of his death. Vietnam President Ngo Dinh Diem had told the United States that he didn’t want U.S. troops sent to his country, as he felt it would make it look like he was bowing to colonialism. Kennedy sent General Maxwell Taylor and Deputy National Security Advisor Walt Rostow to Vietnam to assess the situation. Despite Diem insisting against U.S. soldiers, Taylor and Rostow advised Kennedy to send combat troops. Diem was right, and the introduction of American troops eroded his popularity. In October of 1963, Kennedy told U.S. Ambassador Henry Cabot Lodge Jr. to give General Duong Van Minh covert assistance in a coup to overthrow Diem. On November 1st 1963, Diem was overthrown and eventually assassinated by Minh. The overthrow of Diem is one of the key events in the war, as it put the United States on a path to much deeper intervention, which would be very difficult to extract itself from. Before Diem’s overthrow, Kennedy had approved NSAM (national security action memorandum) 263 on October 11, 1963, which called for the withdraw of 1000 troops by the end of 1963, with most U.S. personnel removed by the end of 1965. Historians use NSAM 263 to state that Kennedy had decided to remove the combat troops from Vietnam, but that was before the November 1st coup. It is a great unknown what Kennedy would have done in Vietnam, but one cannot assume he would have made the colossal mistakes the Lyndon Johnson did. By the end of 1963, however, 1000 troops were removed from Vietnam in accordance with NSAM 263.

Kennedy’s death led to a major change in Vietnam policy much the same way that Roosevelt’s did nearly two decades earlier. Lyndon Johnson went all in on Vietnam. When Johnson took office there were only 16,000 troops in Vietnam, but by the time he left office that number had ballooned to over 500,000. During the 1964 presidential campaign Johnson promised the American people that he wouldn’t go to war in Vietnam stating “We are not about to send American boys nine or ten thousand miles away from home to do what Asian boys ought to be doing for themselves. ” Johnson’s used the Gulf of Tonkin incident of August 4th 1964 as justification to declare war. The Destroyer, the USS Maddox, thought that it was being attacked by North Vietnamese torpedo boats, and radioed in reporting the attack and asking for air support. The air support verified that there were no torpedo boats in the area. Even Captain Herrick of the Maddox determined that there were no torpedo boats there and that his sonar operators had made a mistake. Herrick sent a high priority message that stated “Review of action makes many reported contacts and torpedoes fired appear doubtful. Freak weather effects on radar and overeager sonarmen may have accounted for many reports. No actual visual sightings by MADDOX. Suggest complete evaluation before any further action taken.” When Johnson presented the public and Congress with the “attack” he deliberately omitted the evidence that proved that the Gulf of Tonkin incident was nothing more than a phantom attack. Johnson and his staff knew that no attack happened, but they used it as a pretext to go to war, and the Gulf of Tonkin resolution passed through congress on August 7th. Johnson put domestic political considerations ahead of military concerns in Vietnam. He didn’t want to look weak in the eyes of his political opponents or be seen as “losing Vietnam” the way Truman was seen as “losing China”. He also felt that a loss in Vietnam would hurt his reelection chances in 1968. In February of 1965 Johnson authorized Operation Rolling Thunder, which was a sustained bombing campaign of Northern Vietnam. Johnson steadily increased troop levels until the end of his term. Even though Johnson saw the war as unwinnable, he persisted due to fear of the possible political fallout. The war became so unpopular that it led to a peace movement and it cost Johnson any chance at reelection.

In 1971 Daniel Ellsberg released the Pentagon Papers to the New York Times and The Washington Post. The Pentagon Papers demonstrated that the Johnson Administration systematically lied to both the American people and Congress about the war in Vietnam. The Pentagon papers covered the U.S. involvement in Vietnam from 1945-1963. They revealed many things that were hidden from the press about the war, including Kennedy’s involvement in the 1963 coup, as well as bombings in Laos and Cambodia. Since the war was ongoing at the time, President Richard Nixon wanted to stop their publication for national security reasons.

Nixon entered the White House with the promise to end the war in Vietnam with an honorable peace. Having a large number of troops in an ongoing war made safe and quick extraction impossible. Nixon’s plan in Vietnam was to drawn down US troops while replacing them with Vietnamese troops in what was called Vietnamization, while negotiating a peace agreement with North Vietnam. In 1969 Nixon began a campaign bombing Cambodia due to it’s allowing the North Vietnam and the Viet Cong to use the Ho Chi Minh trail to funnel soldiers and supplies into the south. The bombing of Cambodia was controversial, but justified as part of a strategy to end the war. It was also the right thing to do to support the American soldiers on the ground. In January of 1973 the Paris Peace Accords were signed between the United States, North Vietnam, South Vietnam and the Viet Cong. The agreement included a cease-fire, a promise to remove all US soldiers and advisers and the North Vietnamese agreed to release all POWs. Nixon got the best settlement possible considering the war had long been lost due to Lyndon Johnson’s total lack of a winning strategy. The agreement was meant to end the war between the north and the south, but in December of 1974 North Vietnam broke the agreement and launched an invasion of South Vietnam. By this time Gerald Ford had taken over as President after Nixon’s resignation. As North Vietnamese forces advanced, Ford asked for a $722 million aid package from Congress. The proposal was voted down by a wide margin. Saigon fell in April of 1975, with the United States evacuating over 1300 U.S. citizens and over 5500 Vietnamese nationals. The final fall of South Vietnam was a bitter pill for many to swallow after all the blood and treasure spent to save it. Over 100,000 Vietnamese refugees emigrated to the United States to escape the evils of communism.

The Vietnam war left a scar on the psyche of many Americans. Many veterans were mistreated by portions of the public upon returning home and several suffered from post traumatic stress syndrome. Every time there was a new foreign confrontation would come up there would be cries of “another Vietnam”. Johnson’s misuse of the Gulf of Tonkin incident also led to congress passing the War Powers Act, which is a constitutional infringement upon a presidents power as commander in chief.


Lao People&aposs Democratic Republic - History

Although archaeological evidence indicates that settlers along the Mekong had learned agriculture, metallurgy, and pottery making by 3000 BC , little is known about the early history of the land that today bears the name of Laos. The lowland Lao are believed to be the descendants of Thai tribes that were pushed southward in the 8th century. According to tradition, the kingdom called Lan Xang (Ȫ million elephants") was established in 756 by King Thao Khoun Lo. In 1353, it was reunified by Fa-Ngoum, who had been raised at the court of Angkor in Kampuchea and returned with a force of Khmer troops. He is also credited with the introduction of Hinayana Buddhism into Laos. Lan Xang waged intermittent wars with the Khmers, Burmese, Vietnamese, and Thai and developed an effective administrative system, an elaborate military organization, and an active commerce with neighboring countries. In 1707, internal dissensions brought about a split of Lan Xang into two kingdoms, Luangphrabang in the north (present-day upper Laos) and Vientiane in the south (lower Laos). Strong neighboring states took advantage of this split to invade the region. Vientiane was overrun and annexed by Siam (Thailand) in 1828, while Luangphrabang became a vassal of both the Chinese and the Vietnamese. In 1893, France, which had already established a protectorate over what is now central and northern Vietnam, extended its control to both Vientiane and Luangphrabang, and Laos was ruled by France as part of Indochina. Although French control over Luangphrabang took the nominal form of a protectorate, the French colonial administration directly ruled the rest of Laos, legal justification being ultimately provided in the Lao-French convention of 1917.

During World War II, Laos was occupied by Japan. After the Japanese proclaimed on 10 March 1945 that "the colonial status of Indochina has ended," the king of Luangphrabang, Sisavang Vong, was compelled to issue a declaration of independence. The nationalist Free Lao (Lao Issarak) movement deposed the monarch soon after, but French forces reoccupied Laos, and on 27 August 1946, France concluded an agreement establishing him as king of Laos and reimposing French domination over the country. In May 1947, the king established a constitution providing for a democratic government. On 19 July 1949, Laos nominally became an independent sovereign state within the French Union. Additional conventions transferring full sovereignty to Laos were signed on 6 February 1950 and on 22 October 1953. All special economic ties with France and the other Indochinese states were abolished by the Paris pacts of 29 December 1954. In the meantime, Vietnamese Communist (Viet-Minh) forces had invaded Laos in the spring of 1953. A Laotian Communist movement, the Pathet Lao (Lao State), created on 13 August 1950 and led by Prince Souphanouvong, collaborated with the Viet-Minh during its Laotian offensive. Under the Geneva cease-fire of 21 July 1954, all Viet-Minh and most French troops were to withdraw, and the Pathet Lao was to pull back to two northern provinces, pending reunification talks with the national government under the leadership of Souvanna Phouma (Souphanouvong's half-brother). The negotiations were completed on 2 November 1957, and the Pathet Lao transformed itself into a legal political party called the National Political Front (Neo Lao Hak Xat). However, a political swing to the right that led to the ouster of Souvanna Phouma as prime minister, coupled with the refusal of the Pathet Lao forces to integrate into the Royal Lao Army, led to a renewal of fighting in May 1959.

A bloodless right-wing coup in January 1960 was answered in August by a coup led by paratroops, under the command of Capt. Kong Le in the ensuing turmoil, Souvanna Phouma returned to power. After a three-day artillery battle that destroyed much of Vientiane, right-wing military elements under Gen. Phoumi Nosavan and Prince Boun Oum occupied the capital on 11 December. A new right-wing government under Prince Boun Oum was established, but further military reverses, despite a heavy influx of US aid and advisers, caused the government to ask for a cease-fire in May 1961. An international conference assembled in Geneva to guarantee the cease-fire. All three Laotian political factions agreed on 11 June 1962 to accept a coalition government, with Souvanna Phouma as prime minister. On 23 July, the powers assembled at Geneva signed an agreement on the independence and neutrality of Laos, which provided for the evacuation of all foreign forces by 7 October. The United States announced full compliance, under supervision of the International Control Commission (ICC), set up in 1954. Communist forces were not withdrawn. Fighting resumed in the spring of 1963, and Laos was steadily drawn into the role of a main theater in the escalating Vietnam war. The Laotian segment of the so-called Ho Chi Minh trail emerged as a vital route for troops and supplies moving south from the Democratic Republic of Vietnam (DRV), also known as North Vietnam, and was the target for heavy and persistent US bombing raids. While the Vientiane government was heavily bolstered by US military and economic support, the Pathet Lao received key support from the DRV, which was reported to have 20,000 troops stationed in Laos by 1974. Efforts to negotiate a settlement in Laos resumed with US backing in 1971, but a settlement was not concluded until February 1973, a month after a Vietnam peace agreement was signed in Paris. On 5 April 1974, a new coalition government was set up, with equal representation for Pathet Lao and non-Communist elements. Souvanna Phouma, 73 years old and in failing health, stayed on as prime minister, while Prince Souphanouvong was brought closer to the center of political authority as head of the newly created Joint National Political Council.

The Pathet Lao had by this time asserted its control over three-fourths of the national territory. Following the fall of the US-backed regimes in Vietnam and Cambodia in April 1975, the Laotian Communists embarked on a campaign to achieve complete military and political supremacy in Laos. On 23 August, Vientiane was declared "liberated" by the Pathet Lao, whose effective control of Laos was thereby secured. On 2 December 1975, the Lao People's Democratic Republic (LPDR) was established, with Prince Souphanouvong as president and Kaysone Phomvihan as prime minister. King Savang Vatthana abdicated his throne, ending the monarchy that had survived in Laos for 622 years. Elections for a new National Assembly were called for April 1976 however, voting was put off indefinitely, amid reports of civil unrest and sabotage. A Supreme People's Council was convened, meanwhile, with Prince Souphanouvong as chairman, and was charged with the task of drafting a new constitution.

During the late 1970s, the Communists moved to consolidate their control and socialize the economy. Private trade was banned, factories were nationalized, and forcible collectivization of agriculture was initiated. "Reeducation" camps for an estimated 40,000 former royalists and military leaders were established in remote areas as of 1986, the government maintained that almost all the inmates had been released, but Amnesty International claimed that about 5,000 remained. A 25-year friendship treaty with Vietnam, signed in July 1977, led to closer relations with that country (already signaled by the continued presence in Laos of Vietnamese troops) and with the former USSR, and also to the subsequent dismissal from Laos of all Chinese technicians and advisers. China, for its part, began to give support and training to several small antigovernment guerrilla groups. With the economy in 1979 near collapse, in part because of severe drought in 1977 and flooding in 1978, the Laotian government slowed the process of socialization and announced a return to private enterprise and a readiness to accept aid from the non-Communist world. Throughout the 1980s armed opposition to the government persisted, particularly from the Hmong hill tribe rebels. At the Fourth Party Congress of the Lao People's Revolutionary Party (LPRP), in December 1986, a "new economic management mechanism" (NEM) was set up, aiming at granting increased autonomy in the management of formerly state-run enterprises to the private sector.

In 1988 the Lao national legislature, the Supreme People's Assembly (SPA), adopted new election laws and the first elections since the formation of the LPDR in 1975 were held. Local and provincial elections were held in 1988, and on 27 March 1989 national elections took place for an enlarged Supreme People's Assembly. In March 1991 the Fifth Party Congress of the LPRP changed Kaysone Phomvihan's title from prime minister to president, elected a new 11-member politburo, pledged to continue economic reforms in line with free-market principles while denying the need for political pluralism, and changed the national motto by substituting the words ⋞mocracy and prosperity" for "socialism." The newly elected SPA drafted a constitution adopted on 14 August 1991. The constitution provided for a national assembly functioning on principles of ⋞mocratic centralism," established the LPRP as the political system's "leading organ," created a presidency with executive powers, and mandated a market-oriented economy with rights of private ownership.

President Kaysone Phomvihan, longtime LPRP leader, died on 21 November 1992. A special session of parliament on 24 November 1992 elected hard-line Communist Nouhak Phoumsavan as the next president. Gen. Khamtai Suphandon, who had been prime minister since 15 August 1991, remained in that post. National Assembly elections were held in December 1992. One day before these elections, three former officials who called for a multiparty democracy and had been detained in 1990 were sentenced to 14 years imprisonment. The National Assembly convened in February 1993 and approved government reorganization designed to improve public administration. On 9 January 1995, longtime leader Prince Souphanouvong died, unofficially marking an end to Laos' long dalliance with hard-line Marxism. Although the NEM had initiated an opening up to international investment and improved relations with the rest of the world, there remained elements of the old guard in positions of power. With the death of Souphanouvong, the only old-time hard-line Marxist still in power as of 1996 was the country's president, Nouhak Phoumsavan. Khamtai Siphandon, prime minister and party chief, was more powerful than Nouhak and is largely credited with exerting a moderating influence on the hardliner. Nonetheless, there remains a strongly conservative mindset among the politboro members that still pulls the government back from economic flexibility or any hint of political liberalization.

Laos has actively improved its already "special relations" with Vietnam and Cambodia, while always seeking to improve relations with Thailand, the People's Republic of China (PRC), and the United States. Periodic meetings are held to promote the cooperative development of the Mekong River region by Laos, Thailand, Vietnam, and Cambodia. Laos and the People's Republic of China restored full diplomatic relations in 1989 and are now full-fledged trading partners. Mutual suspicions, characterizing the relationship between Laos and Thailand, improved with agreements to withdraw troops and resolve border disputes, and agreements between the United Nations High Commissioner for Refugees (UNHCR) to repatriate or resettle nearly 60,000 Lao refugees in Thailand. Laos has cooperated with the United States in recovering the remains of US soldiers missing in action in Laos since the Vietnam War and in efforts to suppress drug-trafficking. The US Department of State objects to Laos' restrictions on free speech, freedom of assembly and religious freedom. US Assistant Secretary of State Stanley Roth commented in March 2000 that Laos is unlikely to gain Most Favored Nation trading status unless it accounts for the fate of two naturalized US citizens, Hmong activists who disappeared in Laos during 1999. The debate over whether to grant Laos normal trade relations status was ongoing as of early 2003.

On 26 February 1998, Khamtai Siphandon was elected president, and he was reelected in March 2001. Beginning in 2000, Vientiane was hit by a series of bomb blasts, attributed to anti-government groups based abroad. Beginning in the late 1990s, tensions emerged between rival groups of ethnic Hmong in the highlands. Triggered by Thailand's closing of refugee camps on its side of the Laos-Thai border, tens of thousands of exiles were forced to return home. Most were expected to be jailed or executed for their anti-government activities, but instead, the government encouraged their peaceful settlement among the lowland population. Certain right-wing guerrilla factions among the Hmong, long fighting the Pathet Lao, subsequently reacted violently to the government's pacification efforts to integrate moderate Hmong villagers. On 6 February 2003 near Vang Vieng, a bus and 2 Western bicyclers were attacked by gunmen, who killed twelve people. Militant Hmong were blamed for the attack.

On 24 February 2002, parliamentary elections were held, but all but one of the 166 candidates were from the Lao People's Revolutionary Party (LPRP). The LPRP won 108 of 109 seats in the National Assembly.


Xem video: 1990 MATBUOT MINBARIDAGI NUTQI (Tháng Giêng 2022).