Lịch sử Podcast

Tại sao quân Đồng minh để cho Hitler phá bỏ Hiệp ước Versailles?

Tại sao quân Đồng minh để cho Hitler phá bỏ Hiệp ước Versailles?

Tôi đang đọc về những gì dẫn đến ww2 và tôi nhận thấy rằng Hitler đã phá vỡ một số thỏa thuận trong Hiệp ước Versailles, chẳng hạn như có được một đội quân hơn 100000 người.

Tôi đã tự hỏi tại sao các đồng minh lại để anh ta làm điều này và không chỉ dừng anh ta ở đó trước khi anh ta có thể tích lũy một đội quân thậm chí còn lớn hơn?


Cách diễn đạt của câu hỏi phản bội lại thành kiến ​​của nhận thức muộn màng. Ý tưởng rằng Hitler có thể đã được thực hiện bằng hành động tập thể quyết định vào giữa những năm 1930 có sức hấp dẫn to lớn hiện nay. Nhưng vào thời điểm đó, việc duy trì một cách cứng nhắc các điều khoản của một hiệp ước 20 năm tuổi không khả thi đối với hầu hết mọi người, dường như hầu hết mọi người đều cho rằng thảm họa chứ không phải ngăn chặn nó.

Vi phạm hiệp ước

Nó không giống như thể các điều khoản của hiệp ước đã không bị vi phạm, bị xáo trộn và bị đổ bể ngay cả trước khi Hitler lên nắm quyền.

Hitler không phải là nhà lãnh đạo châu Âu đầu tiên chú ý đến hiệp ước nói chung và người Pháp nói riêng. Năm 1923, Lithuania nhỏ bé đã thiết kế một cuộc chiếm đóng Memelland và lật đổ chính quyền Pháp ở đó một cách hiệu quả (việc quản lý lãnh thổ của Pháp được ủy quyền theo hiệp ước Versailles). Hành động của Litva đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận như một hành động sai trái.

Một bước đầu trong việc thực thi nghiêm chỉnh các điều khoản Versailles là việc Pháp / Bỉ chiếm đóng Ruhr vào năm 1923. Mục tiêu của nó là buộc Đức phải tiếp tục các khoản bồi thường. Nó không phải là một thành công. Hành động của Pháp được coi là nặng tay và không được lặp lại.

Trên thực tế, lịch trình thanh toán bồi thường theo quy định của hiệp ước không bao giờ được giữ nguyên. Nước Đức thời kỳ tiền Hitlerite đã điều chỉnh giảm các khoản bồi thường theo thỏa thuận tại Versailles vào năm 1921 và 1924. Có thể cho rằng Đức đã bất chấp các điều khoản của hiệp ước từ rất lâu trước khi Hitler lên nắm quyền.

Chính phủ dân chủ Đức cũng vi phạm các giới hạn về quy mô và phạm vi các lực lượng vũ trang của mình, khiến Anh và Pháp nhắm mắt làm ngơ.

Versailles không hợp lý / Đức hợp lý

Điều quan trọng cần nhớ là Hiệp ước Versailles là một nền hòa bình khắc nghiệt và được coi là như vậy. Không chỉ ở nước Đức bại trận mà còn, dần dần mà còn ở giữa những người chiến thắng. Keynes vào năm 1920 gọi nó là "Hòa bình Carthaginian". Theo Keith Robbins trong Lịch sử, Tôn giáo và Bản sắc ở Anh Quốc hiện đại một "nỗi xấu hổ nhất định" xuất hiện về cách mà ngay cả các học giả đã nói về "Huns" hai mươi năm trước.

Nếu bạn cho rằng hiệp ước Versailles là không hợp lý thì đó là một bước rất nhỏ để nhận thấy các yêu cầu của Đức là hợp lý, thậm chí hợp lý.

Trước Hitler, nước Đức đã có một kỷ lục dài hàng thập kỷ về hành vi tốt, ít nhất là trên giấy tờ. Hiệp ước Locarno và các hiệp ước khác đã có tác dụng khôi phục ngoại giao của Đức. Trong các nền dân chủ châu Âu, sự chán ghét đối với Hitler không tương đồng với cảm giác chung rằng sự bất bình của người Đức là không có căn cứ.

Những đồng minh". Đồng minh nào chính xác?

À, nhiệm vụ của các "đồng minh" là buộc Hitler phải lùi bước. Những cái nào, chính xác? Chiến thắng trong cuộc Đại chiến là một nỗ lực tập thể. Đại khái mà nói, các đồng minh chiến thắng chịu trách nhiệm cho hiệp ước Versailles bao gồm Nhật Bản, Nga, Ý, Hoa Kỳ, Anh và Pháp.

Vì vậy, một cuộc hành quân để đưa Hitler đến gót chân và thực thi hiệp ước Versailles? Nhật Bản và Ý? Không. Liên Xô và Hoa Kỳ? Không, và giải thích tại sao không sẽ đòi hỏi một bộ câu hỏi và câu trả lời hoàn toàn mới. Vì vậy, đủ để nói rằng chúng ta đang nói về Anh và Pháp.

Nhìn từ Anh, và đặc biệt là Pháp, công việc duy trì hiệp ước Versailles bắt đầu vào những năm 1930, giống như một thứ mà mọi người khác đều muốn tình nguyện cho nước Pháp.

Khí hậu ở Anh và Pháp

Điều này đưa chúng ta đến với môi trường chính trị và xã hội ở Pháp. Không chỉ bất ổn ở cấp độ chính trị mà còn có một loạt các vấn đề khác. Hơn bất kỳ quốc gia nào khác ở Châu Âu, Pháp đã kiệt quệ vì Thế chiến thứ nhất. Tiền tệ đã bị yếu. Tỷ lệ sinh giảm là nguyên nhân gây lo ngại thường xuyên, đến nỗi thủ tướng Briand tuyên bố "Tỷ lệ sinh của chúng tôi quyết định chính sách đối ngoại mà tôi đưa ra". Đây là cái gọi là "những năm trống rỗng" của Pháp. Đối mặt với một nước Đức đang trỗi dậy, các giải pháp của Pháp bao gồm chỗ ở / xoa dịu, quay lưng lại với châu Âu và hướng tới đế chế, rút ​​lui sau chiến tuyến Maginot. Đối đầu với Đức phụ thuộc rất nhiều vào mạng lưới liên minh, bao gồm cả Anh, Nga và các quốc gia châu Âu nhỏ hơn. Nhưng những liên minh này đều có vấn đề và là gánh nặng của sự nghi ngờ lẫn nhau.

Người Anh không muốn đối đầu với Đức như người Pháp. "Cuộc tranh luận về Vua và Quốc gia" nổi tiếng thường được trích dẫn như một ví dụ về tâm trạng theo chủ nghĩa hòa bình trong giới thành lập ở Anh. Nổi tiếng không kém và có liên quan đến câu hỏi của bạn là Neville Chamberlain phản đối việc liên quan đến nước Anh trong một "cuộc cãi vã ở một đất nước xa xôi giữa những người mà chúng ta không biết gì". Quy tắc 10 năm hạn chế tái vũ trang của Anh cho thấy nước Anh còn rất xa mới sẵn sàng và có thể chống lại các vi phạm kỹ thuật của hiệp ước Versailles.


Vấn đề với bất kỳ điều khoản hiệp ước nào là bạn sẽ làm gì nếu bên đó vi phạm. Lý tưởng nhất là bạn sẽ bắt đầu chiến tranh ngay lập tức. Tuy nhiên, liệu các đồng minh của bạn và những người của chính bạn có ủng hộ điều này không?

Hitler đã có thể biến đội quân 100000 người và những giới hạn về trang bị vào một chiếc áo khoác bó sát mà thậm chí không cho phép họ tự vệ trước những người hàng xóm nhỏ nhất của mình. Việc chiếm đóng Rhineland được coi là một sự tiếp quản thù địch đối với một phần đất tốt của họ. Nhiều quốc gia khác, và một số bộ phận dân cư của Anh và Pháp đã nhận ra đủ tính hợp lệ của điều này khiến giới lãnh đạo cảm thấy không đáng để xảy ra chiến tranh.


Tập trung vào Rhineland vì vi phạm hiệp ước lớn, Anh và Pháp có ba lựa chọn.

1) Chiến tranh. Điều này đã được ra ngoài. Các chính trị gia đổ lỗi rất nhiều cho điều đó, nhưng người dân các nước này, cũng như các thuộc địa và đồng minh của họ, đã kiên quyết phản đối. Ở Anh, cả phe Đối lập, chính phủ và công chúng đều không đồng ý với phân tích của Churchill cho đến khi Tiệp Khắc bị hủy diệt.

2) Phong tỏa kinh tế. Trong thời hiện đại, các quốc gia tương đối giỏi trong việc tổ chức những việc như vậy. Vẫn mất hàng tháng hoặc hàng năm để sắp xếp chúng và chúng cũng bị rò rỉ. Anh và Pháp không có cách nào để khiến các nước khác đi cùng, và bản thân sẽ phải chịu thiệt hại về kinh tế.

Hãy nghĩ về Iran: ngay cả với mọi quốc gia hùng mạnh nhất thế giới và một bên là Liên hợp quốc và bên kia là Iran, vẫn phải mất gần hai thập kỷ để khiến họ phải lùi bước. Anh và Pháp không có gì giống như quyền lực đối với Đức mà Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp và Đức có đối với Iran ngày nay.

3) không làm gì cả.

3 là những gì họ đã làm.


Tôi nghĩ điều quan trọng là phải hiểu môi trường ở phần còn lại của châu Âu vào thời điểm đó.

Tây Ban Nha đã xảy ra cuộc nội chiến 1936-1939 (một số người coi đó là thử thách cho Thế chiến 2) Ý nằm dưới sự kiểm soát của chủ nghĩa phát xít.

Nhưng hãy nói về những quốc gia "quan trọng" hơn, ở Anh, bộ trưởng phụ trách lúc đó thiên về đàm phán hơn là tấn công, ý kiến ​​chung là Hitler sẽ là người hợp lý và trong trường hợp xấu nhất, Hindenburg sẽ kiểm soát ông ta. .

Cuối cùng, nước Pháp RẤT bất ổn về mặt chính trị với một số tổng thống trong vài năm và một xã hội phân cực cao (nơi mọi người thà chấp nhận một người Đức hoặc một người Liên Xô nếu điều đó loại trừ kẻ thù của họ).

Vì vậy, đó là bối cảnh mà các nền dân chủ châu Âu thực sự yếu kém, và liên quan đến Hoa Kỳ, họ đã đủ bận rộn để cố gắng kiểm soát các vấn đề phát sinh sau vụ nứt vỡ phố tường năm 1929.

Tóm lại, bối cảnh thực sự tốt cho những gì Hitler đã làm, thật không may sẽ không có ai thực sự làm phiền ông ta trong kế hoạch của mình.


Hiệp ước Versailles chủ yếu là vì lợi ích của Pháp (lưu ý nơi ký kết). Hoa Kỳ và Vương quốc Anh ban đầu chấp thuận sau Thế chiến thứ nhất, nhưng sự ưng thuận này giảm dần khi thời gian trôi qua. Đến những năm 1930, Đức không còn đứng đầu "danh sách mối đe dọa" đối với Anh, ít nhất. Pháp, với quân đội lớn nhất châu Âu (hiện nay đã bị Đức trấn áp) và bờ biển dài của nó ở một số phương diện còn đe dọa hơn.

Anh sẵn sàng đối xử với Đức như một quốc gia "khác" với sự tương đương về quân sự so với "những quốc gia khác", (không phải Anh). Cụ thể, vào năm 1935, Anh đã đàm phán một hiệp ước hải quân với Đức cho phép nước này có lực lượng hải quân lớn hơn 35% so với của Anh. Điều này thực sự vượt quá giới hạn cho phép đối với Pháp và Ý bởi Hội nghị Hải quân Washington là 1,67 đến 5, hay 33% của Anh. Thêm vào đó, điều này vượt quá giới hạn của Hiệp ước Versailles cho phép Đức chỉ có một số tàu tuần dương, tàu khu trục và tàu phóng lôi.


Sức mạnh Đồng minh & # 8217 Sự xoa dịu đối với Đức Quốc xã

Thủ tướng Anh Neville Chamberlain được Adolf Hitler chào đón khi bắt đầu cuộc họp Bad Godesberg vào ngày 24 tháng 9 năm 1938, nơi Hitler yêu cầu sáp nhập các khu vực biên giới của Séc ngay lập tức

Sau khi Hitler trở thành Thủ tướng, Đức bắt đầu vi phạm các điều khoản của Hiệp ước Versailles. Các cường quốc Đồng minh mong muốn hòa bình bắt đầu một chính sách xoa dịu.

Sau khi Hitler được bổ nhiệm làm Thủ tướng Đức vào ngày 30 tháng 1 năm 1933 đánh dấu sự khởi đầu của Đệ tam Đế chế, ông ta bắt đầu sửa đổi các điều khoản của Hiệp ước Hòa bình Versailles. Ban đầu, các cường quốc Đồng minh cho phép Hitler xem xét lại hiệp ước hòa bình vì họ tin rằng các khía cạnh cụ thể là quá nghiêm trọng. Điều quan trọng hơn nữa là hiểu rõ lịch sử xung đột ở Tây Âu & # 8217, Pháp và Anh lo sợ nếu họ chống lại Hitler, nó sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh thế giới khác.

Tuy nhiên, sau khi có bằng chứng cho thấy Hitler đã đi quá xa, Anh và Pháp vẫn giữ thái độ bị động. Người chống đối là người thiếu dũng khí đứng lên chống lại những kẻ xâm lược, đó chính xác là chính sách mà Pháp và Anh đã đạt được đối với Đức vào cuối những năm 1930.

Mục tiêu chính của Hitler là tái thiết sức mạnh quân sự của Đức và sửa đổi tất cả các khía cạnh bất hợp lý của hiệp ước. Vào tháng 3 năm 1935, Hitler bắt đầu nhập ngũ và xây dựng lực lượng không quân Đức. Sau đó vào tháng 3 năm 1936, Hitler tái quân sự vùng Rhineland và vào tháng 3 năm 1938 tham gia vào Anschluss, nước đã sát nhập Áo. Mặc dù những hành động này đã đi ngược lại với Hiệp ước Hòa bình Versailles, nhưng phe Đồng minh đã không lên án Đức. Cuối cùng khi Hitler bắt đầu đưa ra các yêu cầu đối với Tiệp Khắc vào mùa hè năm 1938, quân Đồng minh bắt đầu có chút lo lắng.

Thủ tướng Anh Neville Chamberlain đã nhìn thấy hai phương pháp chính về cách đối phó với sự xâm lược của Đức. Lựa chọn đầu tiên sẽ là buộc Hiệp ước Versailles thông qua vũ lực quân sự và lựa chọn thứ hai là đàm phán với Hitler. Chamberlain chống lại quân đội Đức vì nhiều lý do. Ngoài Pháp, Anh không có đồng minh thực sự nào. Nước Anh không có đồng minh ở Ý hoặc Nga như trong Thế chiến thứ nhất. Vì vậy, Chamberlain đã sắp xếp một loạt các cuộc gặp với Hitler để đàm phán hòa bình.

Trong cuộc họp thứ hai, Hitler đã thông báo rằng người Tiệp Khắc có năm ngày để sơ tán khỏi Sudetenland, nơi chủ yếu gồm người dân tộc Đức. Cuộc họp thứ ba diễn ra tại Munich và mặc dù tổng thống Tiệp Khắc không được mời để thảo luận về số phận của đất nước mình, Pháp và Ý đã tham gia vào các cuộc đàm phán. Trong cuộc họp, người ta đã quyết định Séc & # 8217s phải chấp nhận các yêu cầu của Hitler và hòa bình sau đó sẽ được lập lại. Vào tháng 3 năm 1939, Hitler đã phá vỡ hiệp định Munich và chiếm phần còn lại của Tiệp Khắc. Anh và Pháp đáp trả bằng cách đảm bảo bảo vệ Ba Lan & # 8217s bằng bất kỳ giá nào ngay cả khi điều đó có nghĩa là cuối cùng sẽ tham gia vào cuộc chiến chống lại Đức. Do đó, khi Hitler xâm lược Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, hai ngày sau Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Mặc dù trong một thời gian ngắn, sự xoa dịu dường như có tác dụng ngăn chặn chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng về lâu dài, nó chỉ làm xấu đi mối quan hệ giữa Đức và Đồng minh vì Hitler bắt đầu coi Đồng minh là yếu và lợi dụng mong muốn hòa bình của họ ở châu Âu. Thêm vào đó, những năm Đồng minh xoa dịu đã cho Đức thời gian để một lần nữa trở thành một quốc gia mạnh và là kẻ thù nguy hiểm đối với Pháp và Anh.


Tại sao Chiến tranh thế giới thứ hai lại xảy ra?

Hiểu những vấn đề khiến các nước quay trở lại trận chiến chỉ hai thập kỷ sau Thế chiến thứ nhất.

Các binh sĩ trên tàu đổ bộ tiếp cận & quotOmaha & quot Bãi biển vào & quotD-Day & quot vào ngày 6 tháng 6 năm 1944.

Nguồn: Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ thông qua Bộ Tư lệnh Di sản và Lịch sử Hải quân

Chia sẻ trên Twitter Được tạo bằng sketchtool.

Chia sẻ trên Linkedin Được tạo bằng sketchtool.

E-mail Share Được tạo bằng sketchtool.

Trích dẫn Được tạo bằng sketchtool.

Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc vào năm 1918, điều cuối cùng mọi người muốn là một cuộc xung đột thậm chí còn lớn hơn. Vậy tại sao chỉ hai thập kỷ sau, thế giới lại quay trở lại chiến đấu để chống lại Thế chiến thứ hai?

Đúng như vậy, cuộc xâm lược của Đức vào Ba Lan vào năm 1939 đã gây ra những tuyên bố chiến tranh từ Pháp và Vương quốc Anh, chính thức bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhưng sự kiện đó chỉ là rơm cuối cùng trong một chuỗi các sự kiện. Nhiều thách thức kinh tế và chính trị khác đã gây căng thẳng trong nhiều năm.

Bài học này xem xét kỷ nguyên giữa Thế chiến I và II — còn được gọi là thời kỳ giữa các cuộc chiến — phá vỡ những vấn đề tạo tiền đề cho cuộc xung đột toàn cầu lần thứ hai và nguy hiểm hơn của thế giới.

Hiệp ước Versailles

Năm 1919, đại diện từ hơn hai chục quốc gia đã tập hợp tại Pháp để soạn thảo các hiệp ước hòa bình sẽ đặt ra các điều khoản cho sự kết thúc của Chiến tranh thế giới thứ nhất. hội nghị. Điều này đặc biệt gây phẫn nộ ở Đức, quốc gia bị đánh bại lớn nhất và hùng mạnh nhất.

Nếu không có sự góp ý của Đức, những người chiến thắng - dẫn đầu là Hoa Kỳ, Pháp và Vương quốc Anh - đã quyết định nền hòa bình sẽ như thế nào sau cuộc xung đột.

Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson muốn cấu trúc hòa bình theo khuôn khổ của ông để ngăn chặn các cuộc xung đột toàn cầu trong tương lai. Khuôn khổ này, được gọi là Mười bốn điểm, ủng hộ việc thành lập một tổ chức quốc tế gọi là Hội quốc liên, tổ chức này dựa trên ý tưởng về an ninh tập thể, có nghĩa là sự xâm lược của một quốc gia sẽ được coi như một mối đe dọa đối với toàn bộ nhóm. . Wilson’s Fourteen Points cũng kêu gọi cắt giảm vũ khí và tự do thương mại, đồng thời giúp đặt nền móng cho nguyên tắc tự quyết — khái niệm rằng các nhóm người thống nhất bởi các đặc điểm chung sẽ có thể quyết định tương lai chính trị của họ.

Trong khi đó, Thủ tướng Pháp Georges Clemenceau, lo sợ về một nước Đức đang trỗi dậy ở biên giới nước Pháp, đã thúc đẩy một thỏa thuận dường như mang một số trừng phạt hơn là hòa bình.

Các cuộc đàm phán kéo dài trong nhiều tháng, nhưng cuối cùng, Hiệp ước Versailles buộc Đức phải nhận trách nhiệm về cuộc xung đột, từ bỏ các thuộc địa ở nước ngoài và 13% lãnh thổ châu Âu của mình, giới hạn quy mô quân đội và hải quân, đồng thời bồi thường ( thiệt hại tài chính) cho những người chiến thắng trong cuộc chiến.

Trở về nhà, người Đức đã nổi giận và tổ chức các cuộc biểu tình phản đối những gì họ coi là những điều khoản khắc nghiệt và nhục nhã. Năm 1923, lãnh đạo Đức Quốc xã Adolf Hitler cho biết hiệp ước này được thiết kế "để đưa hai mươi triệu người Đức đến cái chết của họ và hủy hoại đất nước Đức." Một trong những nguyên lý chính của đảng Quốc xã là hủy bỏ thỏa thuận và những lời hứa chiến dịch như thế đã giúp nhóm này có được những người theo dõi.

Chia sẻ trên Twitter Được tạo bằng sketchtool.

Chia sẻ trên Linkedin Được tạo bằng sketchtool.

E-mail Share Được tạo bằng sketchtool.

Trích dẫn Được tạo bằng sketchtool.

Vai trò chính xác của hiệp định hòa bình trong việc đẩy thế giới đến một cuộc chiến tranh khác vẫn còn đang được tranh cãi gay gắt. Nhưng một số nhà quan sát vào thời điểm đó đã nghi ngờ rằng nó sẽ đảm bảo chấm dứt các hành động thù địch. Nhà kinh tế học John Maynard Keynes đã từ bỏ chức vụ cùng phái đoàn Anh tới Versailles vì ​​hiệp ước mà ông cho là quá trừng phạt và sẽ dẫn đến thảm họa ở châu Âu. Một nhà lãnh đạo quân sự Pháp đã dự đoán với độ chính xác đáng báo động rằng hiệp ước không đại diện cho hòa bình mà là một "đình chiến trong hai mươi năm."

Hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất đã tiết lộ rằng cách các nhà lãnh đạo tạo ra hòa bình có thể được sử dụng như một biện pháp châm ngòi cho những ngọn lửa chiến tranh trong tương lai.

Hội quốc liên và chủ nghĩa lý tưởng ngoại giao

Liên đoàn các quốc gia xuất hiện từ Hiệp ước Versailles với ba mươi hai quốc gia thành viên, bao gồm hầu hết những người chiến thắng trong Thế chiến thứ nhất, và cuối cùng mở rộng bao gồm cả Đức và các quốc gia bại trận khác. (Bất chấp sự vận động nhiệt tình của Tổng thống Wilson, Thượng viện Hoa Kỳ đã từ chối tư cách thành viên.) Theo thỏa thuận thành lập của tổ chức, các quốc gia này hứa sẽ không dùng đến chiến tranh một lần nữa.

Liên đoàn được hình thành dựa trên ý tưởng rằng các mối đe dọa an ninh đối với một thành viên yêu cầu phản hồi từ tất cả các thành viên. Nhưng đến lúc phải ứng phó với những mối đe dọa đó, tổ chức phần lớn đã thất bại.

Bộ phận giải quyết các tranh chấp quốc tế của Liên đoàn yêu cầu phải có sự thống nhất nhất trí trước khi hành động, điều này đã hạn chế nghiêm trọng khả năng hành động của tổ chức này. Ví dụ, sau khi Nhật Bản xâm lược vùng Mãn Châu của Trung Quốc vào năm 1931, Liên đoàn đã không thể buộc Nhật Bản rời đi với quyền phủ quyết của đất nước.

Năm 1935, Ý xâm lược Abyssinia (nay là Ethiopia), và một lần nữa, phản ứng của Liên đoàn là rất nhỏ. Trong một bài phát biểu khẩn cấp cho tổ chức, Hoàng đế Ethiopia Haile Selassie hỏi, "Điều gì đã xảy ra với những lời hứa với tôi?"

Sự lạc quan phi thực tế đã giúp Liên minh diệt vong cũng gây khó khăn cho các mối quan hệ quốc tế rộng rãi hơn vào thời điểm đó. Ví dụ, Hiệp ước Kellogg-Briand năm 1928 bắt buộc các bên ký kết phải giải quyết xung đột mà không dùng đến bạo lực. Tuy nhiên, hiệp ước này thực sự vô nghĩa, vì các quốc gia như Đức, Ý và Nhật Bản đã thông qua các thỏa thuận quốc tế nhằm cấm xâm lược và chủ nghĩa bành trướng và các quốc gia như Pháp và Anh từ chối hành động để duy trì cán cân quyền lực.

Bị tổn thương và suy yếu từ Chiến tranh thế giới thứ nhất, các cường quốc của Liên minh không những không thể đối phó với những mối đe dọa an ninh này mà còn không quan tâm đến việc giải quyết chúng. Do đó, phản ứng không có răng của nhóm đối với hành động xâm lược trắng trợn chỉ khuyến khích nhiều cuộc xâm lược hơn.

Vào đầu Thế chiến thứ hai, Liên đoàn đã bị loại khỏi chính trường quốc tế một cách hiệu quả. Nhiều chuyên gia tin rằng việc không có tư cách thành viên Hoa Kỳ đã hủy hoại tổ chức ngay từ đầu. Trong khi đó, sự rút lui của các quốc gia khác - Đức, Ý và Nhật Bản đều rời đi vào năm 1937 - cũng làm suy yếu uy tín của nhóm.

Mặc dù Liên đoàn cuối cùng đã thất bại trong việc ngăn chặn Chiến tranh thế giới thứ hai, tổ chức này đã có những bước tiến quan trọng vào các vấn đề như sức khỏe toàn cầu và kiểm soát vũ khí. Nhiều cơ quan và lý tưởng của nhóm được chuyển giao cho tổ chức kế nhiệm, Liên hợp quốc. Nhưng những thách thức liên quan đến an ninh tập thể vẫn còn. Ngay cả trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Liên hợp quốc đã phải vật lộn để hành động do bất đồng giữa các nước thành viên hùng mạnh.

Sự trỗi dậy của Hitler

Con đường dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai của Đức bắt đầu gần cuối trận đầu tiên, khi nước này ký hiệp định đình chiến vào tháng 11 năm 1918. Mặc dù các nhà lãnh đạo ở tiền tuyến coi cuộc chiến là bất khả chiến bại, nhưng những người khác từ chối chấp nhận thất bại.

Một huyền thoại bắt đầu được đưa ra rằng nước Đức có thể thắng trong cuộc chiến nếu không xảy ra bất ổn ở quê nhà. Huyền thoại này, được những người bảo thủ và quân đội cổ xúy, cáo buộc sai sự thật người Do Thái và các nhà hoạt động cánh tả đã đâm sau lưng nỗ lực chiến tranh của đất nước. Một số người đã gọi các thành viên của Cộng hòa Weimar - chính phủ dân chủ mới của Đức - là "tội phạm tháng 11" và đổ lỗi cho họ về tổn thất của nước Đức trong Thế chiến thứ nhất.

Sau đó, các cuộc khủng hoảng liên tiếp ập đến nền kinh tế Đức. Vào đầu những năm 1920, đất nước trải qua siêu lạm phát, tình trạng giá cả tăng vọt nhanh chóng đến mức đồng tiền của Đức mất giá nhiều. Tiền tiết kiệm đột nhiên trở nên vô giá trị, và đến năm 1923, việc mua bánh mì cần phải có một chiếc xe cút kít để chở hóa đơn.

Một cậu bé cầm một con diều làm bằng tiền giấy ở Đức vào năm 1922, trong cuộc khủng hoảng kinh tế khiến đồng tiền của Đức mất giá nhiều.

Nguồn: Keystone / Getty Images

Chia sẻ trên Twitter Được tạo bằng sketchtool.

Chia sẻ trên Linkedin Được tạo bằng sketchtool.

E-mail Share Được tạo bằng sketchtool.

Trích dẫn Được tạo bằng sketchtool.

Sau một thời kỳ phục hồi kinh tế - và một khoảnh khắc mà ở Đức dường như nền dân chủ có thể tồn tại - cuộc Đại suy thoái đã khởi đầu một kỷ nguyên mới của sự hỗn loạn về tài chính và chính trị. Từ năm 1929 đến năm 1932, tỷ lệ thất nghiệp ở Đức tăng vọt gần gấp 5 lần, cuối cùng ảnh hưởng đến một phần tư lực lượng lao động. Trong bối cảnh đó, sự ủng hộ của dân chúng đối với đảng Quốc xã đã tăng lên. Giữa các cuộc bầu cử quốc hội năm 1928 và 1933, đảng này đã đi từ giành được 3 phần trăm số phiếu bầu lên 44 phần trăm.

Đức Quốc xã hứa sẽ xé bỏ Hiệp ước Versailles, phục hồi nền kinh tế và khôi phục danh dự cho nước Đức. Họ cũng tìm cách tạo ra một nước Đức rộng lớn hơn, thuần chủng về chủng tộc. Dưới hệ tư tưởng của Đức Quốc xã, người Đức có đẳng cấp vượt trội về chủng tộc và có quyền lãnh thổ lớn hơn hoặc lebensraum (không gian sống) ở phía đông. Khi họ lên nắm quyền, Đức Quốc xã đã đàn áp những người mà họ coi là thấp kém hơn, bao gồm cả người Do Thái, Slavic, Da đen và Roma.

Chia sẻ trên Twitter Được tạo bằng sketchtool.

Chia sẻ trên Linkedin Được tạo bằng sketchtool.

E-mail Share Được tạo bằng sketchtool.

Trích dẫn Được tạo bằng sketchtool.

Năm 1933, Tổng thống Đức Paul von Hindenburg bổ nhiệm Hitler làm thủ tướng chính phủ. Nhiều người trong giới tinh hoa chính trị nghĩ rằng họ có thể kiểm soát được anh ta. Thay vào đó, Hitler nhanh chóng nắm quyền lãnh đạo đất nước, tập trung quyền lực và đình chỉ các quyền tự do dân sự. Thử nghiệm ngắn ngủi của Đức với nền dân chủ đã thất bại.

Là người thống trị tuyệt đối của Đức, hoặc quốc trưởng, Hitler đưa ra lệnh nhập ngũ hoặc nghĩa vụ quân sự bắt buộc nhằm xây dựng lại lực lượng vũ trang của đất nước đã ra lệnh diệt chủng hàng triệu người và xâm lược các quốc gia trên khắp châu Âu. Ba phần tư thế kỷ sau khi ông ta chết, sự lên nắm quyền của Hitler và sự sụp đổ của nước Đức từ chế độ dân chủ sang chủ nghĩa phát xít là những lời nhắc nhở đáng sợ về sự nguy hiểm của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa cực đoan trong chính trị.

Chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản

Cuộc không kích năm 1941 của Nhật Bản vào căn cứ hải quân Trân Châu Cảng ở Hawaii đã đưa Hoa Kỳ trở lại một cuộc xung đột toàn cầu khác. Mặc dù Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt gọi cuộc tấn công là một cuộc tấn công bất ngờ, nhưng không phải do đâu mà ngược lại, nó xuất phát từ tham vọng quyền lực đế quốc của Nhật Bản.

Sự thất vọng đã hình thành trong nhiều thập kỷ ở Nhật Bản về vai trò của đất nước này trên thế giới. Năm 1919, các đại diện của đất nước đã thúc đẩy một tuyên bố khẳng định bình đẳng chủng tộc được đưa vào Hiệp ước Versailles nhưng bị từ chối. Luật phân biệt đối xử ở một số nước phương Tây nhắm vào người Nhật Bản nhập cư. Và đối với nhiều người ở Nhật Bản, hệ thống quốc tế xuất hiện sau Thế chiến thứ nhất dường như được thiết kế để đặc quyền cho người phương Tây tiếp cận với sự giàu có và tài nguyên.

Nhật Bản từ lâu đã tìm cách tích lũy sức mạnh đế quốc. Đài Loan trở thành thuộc địa đầu tiên của Nhật Bản vào năm 1895 và tiếp theo là nhiều lãnh thổ hơn. Năm 1931, Nhật Bản xâm lược khu vực Mãn Châu của Trung Quốc, nơi cung cấp một vùng đệm địa lý chống lại chủ nghĩa cộng sản của Liên Xô cũng như nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào mà quốc đảo này vô cùng thiếu thốn. Sau khi kích động chiến tranh vào năm 1937, quân Nhật đã xâm chiếm những vùng rộng lớn của Trung Quốc ở phía nam Mãn Châu.

Cuộc xâm lược Mãn Châu được cho là đánh dấu cuộc tấn công đầu tiên của Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong thập kỷ tiếp theo, xung đột leo thang thành chiến tranh toàn diện giữa Nhật Bản và Trung Quốc.

Chia sẻ trên Twitter Được tạo bằng sketchtool.

Chia sẻ trên Linkedin Được tạo bằng sketchtool.

E-mail Share Được tạo bằng sketchtool.

Trích dẫn Được tạo bằng sketchtool.

Trong chiến tranh, các lực lượng Nhật Bản đã tàn sát các tù nhân quân sự và dân thường và thực hiện bạo lực tình dục trên diện rộng. Ước tính có tới hai mươi triệu người Trung Quốc đã chết trong khoảng thời gian từ năm 1937 đến năm 1945. Bất chấp những chiến thuật này và sự phẫn nộ trên toàn cầu đối với những hành động tàn bạo như Hiếp dâm Nam Kinh, nhiều năm trôi qua trước khi Nhật Bản gây hấn với quốc tế.

Nhưng sự phát triển vượt bậc của Nhật Bản và cuộc xung đột ở châu Âu khiến Roosevelt lo ngại. Ông đã thiết lập một lệnh cấm vận cắt đứt Nhật Bản với dầu của Hoa Kỳ để đối phó với chủ nghĩa bành trướng của đất nước. Hải quân Nhật Bản chỉ có khoảng sáu tháng dự trữ dầu. Nước này quyết định đã đến lúc phải thực hiện một chiến lược tấn công nhằm vào các mục tiêu phương Tây, bao gồm cả ở Trân Châu Cảng.

Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật Bản vào ngày 8 tháng 12 năm 1941, một ngày sau cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng. Vào ngày 11 tháng 12, Đức và Ý (đồng minh với Nhật Bản theo Hiệp ước ba bên năm 1940) đã trả đũa bằng cách tuyên chiến với Hoa Kỳ.

Chủ nghĩa biệt lập

Hoa Kỳ của những năm 1920 và 1930, theo nhiều cách, đã hướng nội. Tâm trạng trở về nhà buồn bã vì hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất, đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người, và cuộc Đại suy thoái, đã hủy hoại nhiều người còn sống. Mặc dù quốc gia này tiếp tục đóng một vai trò quốc tế tích cực, đặc biệt là ở Mỹ Latinh và Caribe, nhưng quốc gia này chủ yếu tránh xa các cuộc xung đột vũ trang đang diễn ra trên khắp châu Âu và châu Á.

Trong bối cảnh đó, Quốc hội đã ban hành các mức thuế cao, mang tính bảo hộ nhằm bảo vệ các doanh nghiệp Mỹ khỏi sự cạnh tranh, điều này làm tổn hại quan hệ giữa Hoa Kỳ và các đối tác thương mại. Nó cũng thông qua một số hành động trung lập nhằm đảm bảo Hoa Kỳ tránh các cuộc xung đột nước ngoài. (Thượng viện đã từ chối tư cách thành viên của Hoa Kỳ trong Hội Quốc Liên vào năm 1919 vì những lý do tương tự.) Trong khi đó, sự phản kháng trong nước đối với các động thái ủng hộ Đồng minh của Tổng thống Roosevelt trong những năm 1930 đã tiết lộ cho Đức và Nhật Bản rằng sự xâm lược có một số mặt trái.

Vào đầu những năm 1940, chủ nghĩa biệt lập nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của một tổ chức chính trị có tên là Ủy ban đầu tiên của nước Mỹ. Nhóm có khoảng tám trăm nghìn thành viên và một người đề xuất nổi tiếng - Charles Lindbergh, phi công đầu tiên vượt Đại Tây Dương một mình. Mục đích đã nêu của tổ chức là ngăn Hoa Kỳ thoát khỏi cuộc chiến bắt đầu ở châu Âu vào năm 1939, nhưng nhóm cũng đóng vai trò là nền tảng cho chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và bài Do Thái.

Một cuộc thăm dò dư luận từ tháng 5 năm 1940 cho thấy 93 phần trăm người Mỹ được khảo sát chống lại việc Hoa Kỳ tuyên chiến với Đức. Nhưng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, cuộc tranh cãi về việc có nên tham gia chiến đấu đã trở thành tranh cãi. Sau cuộc tấn công của Nhật vào Trân Châu Cảng và việc Đức tuyên chiến, Hoa Kỳ đã sẵn sàng cho chiến tranh ở cả châu Âu và Thái Bình Dương.

Khó có thể biết được liệu Hoa Kỳ có thể giúp ngăn chặn xung đột thông qua các chính sách kinh tế và đối ngoại ít cô lập hơn hay không. Nhưng cuộc tranh luận về vai trò của quốc gia này trong chính trị quốc tế - và liệu các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ có nên đặt “Nước Mỹ trên hết” hay không - vẫn tiếp tục cho đến nay.

Nhân nhượng

Trong những năm 1930, Pháp và Vương quốc Anh thực hiện chính sách xoa dịu đối với Đức Quốc xã, trong đó họ dung túng một số hành động xâm lược lãnh thổ của nó, thay vì đối đầu bằng vũ lực, với hy vọng rằng nước Đức sẽ ổn định một cách hòa bình. Chính sách này đạt được mục tiêu vào cuối mùa hè năm 1938 khi Hitler đe dọa kéo châu Âu vào cuộc chiến nếu Sudetenland, một khu vực chiếm đa số người Đức ở Tiệp Khắc, không được trao cho Đức.

Chỉ vài tháng trước đó, Đức đã sáp nhập Áo trong một sự kiện được gọi là Anschluss. Hitler nhằm mục đích đoàn kết những người dân tộc Đức trên khắp châu Âu dưới sự cai trị của mình, và Thủ tướng Anh Neville Chamberlain hy vọng Hitler sẽ hài lòng sau khi chiếm được Sudetenland. Các nhà lãnh đạo Anh và Pháp đã ký Hiệp định Munich và chấp nhận các yêu cầu của Hitler để đổi lấy lời hứa rằng Đức sẽ không đưa ra yêu cầu nào nữa. Khi Chamberlain trở lại London với một thỏa thuận do Hitler ký, khẳng định “mong muốn của hai dân tộc chúng ta không bao giờ xảy ra chiến tranh với nhau nữa”, ông tin rằng mình nắm giữ các phương tiện để đảm bảo “hòa bình cho thời đại của chúng ta”. Không cần phải nói, đó không phải là trường hợp, vì giao tranh đã nổ ra vào năm sau.

Thủ tướng Anh Neville Chamberlain tại sân bay Heston ở London khi trở về từ Munich sau cuộc gặp với Hitler, thực hiện địa chỉ & quotPeace for Our Time & quot, vào ngày 30 tháng 9 năm 1938.

Nguồn: Central Press / Getty Images

Chia sẻ trên Twitter Được tạo bằng sketchtool.

Chia sẻ trên Linkedin Được tạo bằng sketchtool.

E-mail Share Được tạo bằng sketchtool.

Trích dẫn Được tạo bằng sketchtool.

Nhưng theo bản thân nhà độc tài, một thách thức trước đó từ người Pháp có thể đã chấm dứt tham vọng của ông ta. Năm 1936, sau khi tái thiết Rhineland - một khu vực nằm trên biên giới của Đức với Pháp - vi phạm Hiệp ước Versailles, Hitler báo cáo rằng, “Bốn mươi tám giờ sau cuộc hành quân vào Rhineland là khoảng thời gian căng thẳng nhất trong cuộc đời tôi. Nếu sau đó người Pháp tiến quân vào Rhineland, chúng tôi đã phải rút lui với cái đuôi giữa hai chân của mình ”.

Trong nhiều thập kỷ kể từ Thế chiến thứ hai, sự xoa dịu đã bị lên án là một thất bại thảm hại trong chính sách đối ngoại. Các nhà lãnh đạo đã sử dụng và lạm dụng thuật ngữ này để biện minh cho sự can thiệp của nước ngoài. Nhưng những nhận định về chiến lược này có lợi cho nhận thức muộn màng. Khi các nhà lãnh đạo Anh và Pháp ký Hiệp định Munich, họ phải đối mặt với áp lực lớn trong nước để tránh chiến tranh. Và mặc dù Chamberlain và những người khác đã đánh giá sai quy mô lớn của tham vọng của Hitler, thật khó để biết liệu các biện pháp chính sách can thiệp nhiều hơn có ngăn chặn được hắn hay không.

Chiến tranh thế giới thứ hai làm lu mờ Chiến tranh thế giới thứ nhất như thế nào

Chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Không giống như Chiến tranh thế giới thứ nhất, dẫn đến phần lớn thương vong về quân sự, Chiến tranh thế giới thứ hai chứng kiến ​​số tử vong của dân thường nhiều hơn số tử vong của binh lính từ ba đến một, phản ánh sự gia tăng của chiến tranh trên không khiến nó có thể ném bom các thành phố và thị trấn ở xa.

Một khía cạnh kinh hoàng độc đáo khác của cuộc xung đột là vụ sát hại hàng loạt sáu triệu người Do Thái được nhà nước bảo trợ của Đức Quốc xã. Holocaust, như đã được biết đến, liên quan đến tổng cộng 11 triệu vụ giết người, bao gồm 5 triệu người đồng tính, người Roma, người khuyết tật và những người khác mà Đức Quốc xã cho là thấp kém.

Tổng cộng, bốn mươi lăm triệu dân thường đã chết trong Thế chiến thứ hai trong bối cảnh giết người hàng loạt, chết đói và dịch bệnh.

Chiến tranh thế giới thứ hai đã dẫn đến sự hình thành thế giới như ngày nay, với hệ thống thể chế quốc tế thúc đẩy thương mại tự do, nhân quyền và an ninh tập thể. Nhưng nó cũng tạo ra khả năng hủy diệt cơn đại hồng thủy, vì nó đã mở ra kỷ nguyên vũ khí hạt nhân.

Có thể hấp dẫn để truy tìm nguyên nhân của Chiến tranh thế giới thứ hai trở lại một thời điểm, chẳng hạn như cuộc xâm lược Ba Lan của Hitler. Nhưng khoảnh khắc này chỉ kể một phần của câu chuyện. In reality, complex dynamics—including the rise of radical nationalism, U.S. isolationism, the failure to maintain a global balance of power, and misplaced optimism that World War I had been the war to end all wars—propelled countries around the world into combat.

Despite the simmering tensions around the globe at the time, World War II was not inevitable. It happened because people in power made decisions throughout the interwar period that helped set the fuse of conflict on fire, ultimately leading to an explosion. Evaluating those decisions is one of the benefits students of history have—and by studying them, the world can learn how to avoid similar conflicts in the future.


Why did the Allies let Hitler break the Treaty of Versailles? - Môn lịch sử

Đăng bởi TdA » 8 years 2 weeks ago (Sat Jun 01, 2013 4:06 pm)


Pre-NSDAP Reich propaganda poster depicting the strength imbalance between Germany and her neighbors.

Ages ago I wondered why exactly did Germany and more importantly Hitler supposedly 'break' the Versailles Treaty and leave the League of Nations. Contemporary historians on the subject pretty much agree that the German government simply shook the chains off as a matter of course, which is fine as the Versailles Treaty itself was little more than a slave treaty.

But did Hitler have justification for leaving the League and opposing the Treaty? I believe one of the most obvious pieces of evidence for this is in the very first article of the Versailles Treaty in its final June 28th, 1919 manifestation. Thankfully the entire document is provided online via Avalon so it can easily be accessed.

Article 8 of Section I. states explicitly that,

France had a population of

35m during peacetime between the wars. Germany have over 80m. Of course Germany's reduction is a specific addendum in the treaty but France was obligated by the treaty to reduce the standing military forces of 4-5 million it had during peacetime. That figure also happens to be the number of French members in the armed forces during the First World War. Simply put - Section I, Article 8 of the Versailles Treaty was not respected by anyone but Germany. After all, the German military, despite mewlings from Ludendorff, was more than capable of actually defending the Reich had hostilities broken out after the 11th November, 1918 armistice, potentially forcing the Allies into an impasse with Germany. However, the "Hun" was honorable enough to not only sign a deplorable treaty, but follow it to the letter as best possible given the ludicrous and impossible hardships it would cause.

There are references to Hitler wanting to reduce strategic bombing, knowing that it would be an unpredictable weapon and devastate civilian lives - this also was not even considered by the other League states implied in the Treaty. Hitler successfully stopped the usage and proliferation of gas - which he had experienced himself in 1918 - though not via the treaty. As far as I know these two sincere attempts to reduce war production and militarism were the only ones ever brought forth to the League, and both were rejected de jure.

My point is simply that, Hitler and the German people were not obliged to support or stand such a treaty that was not only slavish and deplorable but also already dishonoured and broken by all other member states in the League of Nations. That anyone ever accused Hitler of 'breaking' the Treaty to be a dishonourable act (and it was used to bolster the sabre-rattling against Germany in the mid-to-late 1930s) is hypocrisy, pure and simple.

Hektor Valuable asset
Posts: 3778 Joined: Sun Jun 25, 2006 7:59 am

Re: "Hitler Broke The Versailles Treaty" bunkem

Đăng bởi Hektor » 8 years 1 week ago (Sun Jun 02, 2013 8:49 am)

Re: "Hitler Broke The Versailles Treaty" bunkem

Đăng bởi TdA » 8 years 1 week ago (Sun Jun 02, 2013 5:57 pm)

One issue of breaking the treaty is that, even today, the wording of how it was 'broken' serves as an indemnity to National Socialist Germany, insinuating its hostility towards the world and particularly the nations which it faced in the Second World War. The issue, though somewhat footnoted, is drilled into students' heads in all cursory studies of NS Germany, whether it be in the classroom or in a historical documentary. Just like the Holocaust.

Secondly the wording - 'broke,' 'violated,' 'ignored,' are all specifically used to direct public opinion that Hitler and his government were rather brutish and rogue-like in international politics. The truth however is that at first Hitler lead the only movement to actually uphold Section I, Article 8 of the Versailles Treaty. He and his government were obviously disenchanted by the League of Nations and by October, 1933, left the organization and ended the payments stipulated in the original agreement. This is never discussed in or out of the classroom, for obvious reasons.

Hektor Valuable asset
Posts: 3778 Joined: Sun Jun 25, 2006 7:59 am

Re: "Hitler Broke The Versailles Treaty" bunkem

Đăng bởi Hektor » 8 years 1 week ago (Mon Jun 03, 2013 10:25 am)

Re: "Hitler Broke The Versailles Treaty" bunkem

Đăng bởi sweetie pie » 8 years 1 week ago (Wed Jun 05, 2013 7:37 pm)

Hector,
Those nations defeated and occupied by Germany that signed an armistice (like France) or other agreement (like Czechoslovakia) were morally and legally obliged to comply with what they agreed to as written in what they signed. Not "everything demanded of them," as you put it. And that was all they were ever asked to do.

I think your wording of the question you want posed leaves a bit to be desired. France was not forced and tricked into signing the 1940 Armistice with Germany, but Germany was forced and tricked into signing the Versailles Treaty (which you agree with, I know). The unfairness of it all has been recognized almost from that very time, but France's PM Clemenceau insisted on holding to the harsh terms because of his fear of any German strength. That's why France deserved it's occupation by Germany in 1940 and got off easy.

But I question your assumption that Germany made unreasonable or harsh demands on other countries that they defeated, if that is what you mean.

Kingfisher Valuable asset
Posts: 1673 Joined: Sat Jan 30, 2010 4:55 pm

Re: "Hitler Broke The Versailles Treaty" bunkem

Đăng bởi Kingfisher » 8 years 1 week ago (Wed Jun 05, 2013 9:35 pm)

Hector,
Those nations defeated and occupied by Germany that signed an armistice (like France) or other agreement (like Czechoslovakia) were morally and legally obliged to comply with what they agreed to as written in what they signed. Not "everything demanded of them," as you put it. And that was all they were ever asked to do.

I think your wording of the question you want posed leaves a bit to be desired. France was not forced and tricked into signing the 1940 Armistice with Germany, but Germany was forced and tricked into signing the Versailles Treaty (which you agree with, I know). The unfairness of it all has been recognized almost from that very time, but France's PM Clemenceau insisted on holding to the harsh terms because of his fear of any German strength. That's why France deserved it's occupation by Germany in 1940 and got off easy.

But I question your assumption that Germany made unreasonable or harsh demands on other countries that they defeated, if that is what you mean.

I think you are missing Hektor's point here, and reading into his post things he didn't say. His question is addressed not to Revisionists but to 'those that are outraged about Germany violating the "Treaty of Versailles" '. He assumes that such people will in general support and justify resistance in occupied countries on the grounds that these terms were imposed, while not allowing the same justification to Hitler and Germany. There is therefore, in Hektor's view, and probably in yours and mine, an inconsistency in their position. I don't see him as taking a position on it himself in his post.

Re: "Hitler Broke The Versailles Treaty" bunkem

Đăng bởi sweetie pie » 8 years 1 week ago (Thu Jun 06, 2013 1:22 am)

Hektor Valuable asset
Posts: 3778 Joined: Sun Jun 25, 2006 7:59 am

Re: "Hitler Broke The Versailles Treaty" bunkem

Đăng bởi Hektor » 8 years 1 week ago (Thu Jun 06, 2013 10:38 am)

Kingfisher is summarizing my point quite well.

My point is indeed that those critiquing Hitler (or anyone that wanted to get rid of Versailles), will almost always laud any resistance efforts by countries occupied or defeated by Germany. If Germany would have imposed Versailles Treaties on other countries hypothetically, not one of them would hold it against those countries leaders, if they breached that kind of treaties.

Hitler and Germany are clearly singled out again.

Re: "Hitler Broke The Versailles Treaty" bunkem

Đăng bởi sweetie pie » 8 years 1 week ago (Thu Jun 06, 2013 11:27 am)

Hektor wrote: Kingfisher is summarizing my point quite well.

My point is indeed that those critiquing Hitler (or anyone that wanted to get rid of Versailles), will almost always laud any resistance efforts by countries occupied or defeated by Germany. If Germany would have imposed Versailles Treaties on other countries hypothetically, not one of them would hold it against those countries leaders, if they breached that kind of treaties.

Hitler and Germany are clearly singled out again.

Hector, I understood what you were trying to say. I didn't need it to be summarized by kingfisher, nor did I want to debate some non-existent point with him. What I'm saying to you is that your wording of "everything the Germans demanded of them" is prejudicial, even though I know you didn't mean it that way. It might seem like nit-picking, but wording is important and those words "what the Germans demanded" stood out to me.

We are all agreed, and the title of the thread indicates also, that the Versailles Treaty is bunkum. But TdA points out that what is taught in schools and the media is worded in such a way as to give the worst impression of Hitler's Germany. He makes some very good points, to which you reply that the question to ask is: "Were those nations defeated and occupied by Germany in world war II morally and legally obliged to comply with everything the Germans demanded from them, yes or no?" This definitely sounds like German-occupied countries had unreasonable demands made on them. Yes? Does it not sound that way? It's the wording I objected to.

Now you clarify and say: "IF Germany would have imposed Versailles Treaties on other countries, would they not have the right to breach them?" Much better.

My point is that it is hoped we don't have to guess at what the other person means (leading to misunderstandings and even disinfo), but that we can speak precisely enough to get across our exact ideas to others. I knew what you meant but I didn't think it was the same as what you wrote.

And my other point stands - that when a treaty is gone into under honorable conditions and is fully accepted from the start, there is no excuse for breaching it as long as it's followed by the other party. There was no excuse for some part of the French nation, with the encouragement and help from Britain and the U.S., to disregard their country's armistice with Germany. They are the ones who should be considered war criminals for doing so. That includes Charles de Gaulle and the French resistance movement.

hermod Valuable asset
Posts: 2076 Joined: Sun Feb 03, 2013 10:52 am

Re: "Hitler Broke The Versailles Treaty" bunkem

Đăng bởi hermod » 8 years 1 week ago (Fri Jun 07, 2013 8:21 pm)

35m during peacetime between the wars. Germany have over 80m. Of course Germany's reduction is a specific addendum in the treaty but France was obligated by the treaty to reduce the standing military forces of 4-5 million it had during peacetime. That figure also happens to be the number of French members in the armed forces during the First World War. Simply put - Section I, Article 8 of the Versailles Treaty was not respected by anyone but Germany. After all, the German military, despite mewlings from Ludendorff, was more than capable of actually defending the Reich had hostilities broken out after the 11th November, 1918 armistice, potentially forcing the Allies into an impasse with Germany. However, the "Hun" was honorable enough to not only sign a deplorable treaty, but follow it to the letter as best possible given the ludicrous and impossible hardships it would cause.

There are references to Hitler wanting to reduce strategic bombing, knowing that it would be an unpredictable weapon and devastate civilian lives - this also was not even considered by the other League states implied in the Treaty. Hitler successfully stopped the usage and proliferation of gas - which he had experienced himself in 1918 - though not via the treaty. As far as I know these two sincere attempts to reduce war production and militarism were the only ones ever brought forth to the League, and both were rejected de jure.

My point is simply that, Hitler and the German people were not obliged to support or stand such a treaty that was not only slavish and deplorable but also already dishonoured and broken by all other member states in the League of Nations. That anyone ever accused Hitler of 'breaking' the Treaty to be a dishonourable act (and it was used to bolster the sabre-rattling against Germany in the mid-to-late 1930s) is hypocrisy, pure and simple.

You're right. The Treaty of Versailles was broken by all the other member states in the League of Nations. But it's really France's behavior during the Disarmament Conference that blocked the debates and forced Hitler to leave the League of Nations and start to rearm his country. The French representatives at the Disarmament Conference obstinately refused to let their German secular enemies rearm or to disarm their own country as promised at Versailles 15 years earlier. Hitler tried to make them become more sensible for months, but it didn't work. So Hitler left the Disarmament Conference and the League of Nations. Fruitful agreements were impossible to reach with stubborn debatters as the French representatives at the Disarmament Conference. Hitler had understood that and he made the right choice.


Lessons Learned: Hitler’s Rearmament of Germany

On March 16, 1935, Adolf Hitler announced that he would rearm Germany in violation of the Treaty of Versailles. Hitler revealed that Germany had begun to construct an air force , and unveiled plans to reinstitute conscription and create a German army of more than half a million men. Britain, France, Italy, and the League of Nations all issued statements condemning Hitler’s decision, but did little else to penalize Germany.

James M. Lindsay, CFR’s senior vice president and director of studies, notes that it was only on September 1, 1939, when Germany invaded Poland , that "the rest of Europe confronted, rather than appeased, Hitler." This four-year delay, he argues, points to a basic difficulty in international relations . "Aggressive, expansionist states are most easily stopped early on when they are weak and vulnerable," he says, but "precisely because their capabilities are limited at that point--and their intentions can only be guessed at--it is often hard to persuade other countries to act."

This video is part of Lessons Learned, a series dedicated to exploring historical events and examining their meaning in the context of foreign relations today.


A stab in the back

German cartoon: Wilson goes to meet his master in hell © Inevitably, it proved impossible to frame a treaty which would both satisfy the demands of the French and British populations for a punitive treaty and comply with German conceptions of a fair and 'Wilsonian' peace. The Allies constructed the peace settlement on the assumption that while the Germans would not like many of the terms, they would accept them as the inevitable consequence of defeat.

But large sections of the population in Germany did not believe that their country had been honourably defeated on the battlefield. They believed in the rumours sweeping across Germany that the push for victory of their valiant troops on the Western Front had been sabotaged by traitors and pacifists at home who had spread disaffection and revolution.

This 'stab in the back' had prevented the gallant soldiers from securing the victory which was almost in their grasp. Thus a treaty which not only confirmed German defeat, but which, in clause 231, justified its demands for punitive war costs by laying the blame for the outbreak of the war firmly on German shoulders, was bound to provoke fury. Germany was a country which saw itself as having been encircled by France, Russia and Britain in 1914 and provoked into war.

In the frenzied post-war atmosphere, politicians from all parties agreed that the treaty, and in particular its despised 'War Guilt' clause, was vindictive, unfair and impossible to execute. They portrayed it as an unjust peace, and appealed to progressive forces across Europe to help them to revise it.

Such tactics were extremely successful in dividing the victorious coalition which had defeated Germany and negotiated the peace. Within a year, the United States Senate rejected the Treaty of Versailles and signed a separate peace with Germany, leaving Britain and France bitterly opposed over how to proceed. While British leaders now sought further revisions to the treaty in a bid to conciliate Germany, France demanded strict enforcement of the terms.

It was the total failure of the victorious powers to work closely together after 1919 to contain German power, rather than the specific terms of the peace settlement, which was one of the contributing factors to the outbreak of a second world war 20 years later.


How did the allies feel about the Treaty of Versailles?

Nhiều Americans felt that the Treaty was unfair on Germany. They were concerned that belonging to the League would drag the USA into international disputes that were not their concern. In the end, the Congress rejected the Treaty of Versailles and the League of Nations.

Beside above, what were the 5 main terms of the Treaty of Versailles? (1) The surrender of all German colonies as League of Nations mandates. (2) The return of Alsace-Lorraine to France. (3) Cession of Eupen-Malmedy to Belgium, Memel to Lithuania, the Hultschin district to Czechoslovakia. (4) Poznania, parts of East Prussia and Upper Silesia to Poland.

Subsequently, one may also ask, how did Germany feel about the Treaty of Versailles?

The main reasons why the Germans hated the Treaty of Versailles was because they thought it was unfair. Các Germans were also furious about the various terms of the Treaty. They hated clause 231 &ndash the 'War Guilt' clause &ndash which stated that nước Đức had caused 'all the loss and damage' of the war.

What was wrong with the Treaty of Versailles?

Its &ldquowar guilt&rdquo article humiliated Germany by forcing it to accept all blame for the war, and it imposed disastrously costly war reparations that destroyed both the post-World War I German economy and the democratic Weimar Republic. Các treaty, therefore, ensured the rise of Adolf Hitler and the Nazi party.


The 'Stabbed in the Back' Myth

At the end of World War I, the Germans offered an armistice to their enemies, hoping negotiations could take place under the "Fourteen Points" of Woodrow Wilson. However, when the treaty was presented to the German delegation, with no chance to negotiate, they had to accept a peace that many in Germany saw as arbitrary and unfair. The signatories and the Weimar government that had sent them were seen by many as the "November Criminals."

Some Germans believed this outcome had been planned. In the later years of the war, Paul von Hindenburg and Erich Ludendorff had been in command of Germany. Ludendorff called for a peace deal but, desperate to shift the blame for defeat away from the military, he handed power to the new government to sign the treaty while the military stood back, claiming it hadn’t been defeated but had been betrayed by the new leaders. In the years after the war, Hindenburg claimed the army had been "stabbed in the back." Thus the military escaped blame.

When Hitler rose to power in the 1930s, he repeated the claim that the military had been stabbed in the back and that surrender terms had been dictated. Can the Treaty of Versailles be blamed for Hitler's rise to power? The terms of the treaty, such as Germany's acceptance of blame for the war, allowed myths to flourish. Hitler was obsessed with the belief that Marxists and Jews had been behind the failure in World War I and had to be removed to prevent failure in World War II.


The Changing Reading of the Hitler–Stalin Alliance

On August 23, 1939 in Moscow, Hitler’s foreign minister Joachim von Ribbentrop and Stalin’s people’s commissar for foreign affairs Vyacheslav Molotov signed a nonaggression pact between Germany and the Soviet Union. Germany and the Soviet Union promised to maintain neutrality in the event of military conflicts with a third party and to refrain from attacking each other. The two regimes also secured their respective zones of influence in Eastern Europe and described those zones in a secret supplementary protocol, a document whose very existence the Soviet Union denied for decades. The treaty, known in Germany as the Hitler-Stalin Pact (though more commonly referred to as the Molotov-Ribbentrop Pact), laid the foundation for the outbreak of World War II in Europe.

The Beginnings

On August 23, 1939, the German foreign minister’s plane landed in Moscow. Joachim von Ribbentrop had reluctantly interrupted his summer vacation in Salzburg for the signing of a treaty, which he thought was already a done deal. The talks between Britain, France, and the Soviet Union on a potential triple alliance had just failed. The big threat had just been avoided everything else, in Ribbentrop’s view, paled in significance.

Yet Stalin did not think the matter resolved. He demanded that Ribbentrop go to Moscow so that, as Hitler informed his minister, “the essentials of the additional protocol desired by the Government of the USSR . could be finalized as soon as possible.” After seven hours of intense negotiations, the parties drew up a secret supplementary protocol. In it, Germany and the Soviet Union agreed on the partition of Poland and Eastern Europe, including Finland. Four hours later, Ribbentrop and Molotov signed a nonaggression pact between Germany and the USSR. With this, the road to World War II in Europe was opened.

A few days later, on September 1, the German Wehrmacht entered Poland, and on September 17 the Red Army approached from the east. For the first twenty-two months of World War II, the Third Reich and the Soviet Union acted as allies and divided up the European continent between themselves. When, almost two years later, on June 22, 1941, the pact was violated, the territory that Hitler was adding to his realm had increased by 800,000 square kilometers, while Stalin had expanded his empire to the west and southeast by 422 square kilometers. Contrary to Nazi propaganda claims and the words of Ribbentrop, who said he felt in Moscow “as if among Party comrades,” Hitler and Stalin were never real friends. Negotiated with mutual distrust and suspicion, the Hitler-Stalin Pact pursued explicit geopolitical interests, which for Hitler to a lesser extent, for Stalin always, prevailed over ideological motives. These interests in territorial expansion were enshrined in the notorious supplementary protocol. Until the Gorbachev reforms of the late 1980s, the Soviet Union denied the existence of the protocol.

The Partition of Poland

The partition of Poland secured by the secret supplementary protocol was Germany’s and the USSR’s first goal. Despite their stated commitments, neither Britain nor France in the fall of 1939 rushed to help Poland, a country that Molotov had cynically called “the ugly brainchild of the Versailles Treaty.” Hitler and Stalin established a regime of brutal violence and terror on the occupied territories. The Germans turned what they now called the General Governorate into a “discharge tank” to which thousands of deported Jews and Poles flocked. Here, in the Governorate, the Holocaust began, the mass murder of European Jews. Stalin, in his turn, used ruthless methods to Sovietize the Soviet-occupied areas. Western Belarus and Western Ukraine were now parts of his empire.

Both dictatorial regimes committed heinous war crimes and massacres. In the spring, the German invaders organized the so-called Extraordinary Operation of Pacification (AB-Aktion), during which thousands of real and imaginary participants in the Polish resistance were captured and murdered. Around the same time, the NKVD units shot more than 20,000 Polish officers during the Katyn mass executions.

Among the forgotten pages in the history of the Hitler-Stalin Pact is the fact that the perpetrators of those campaigns of violence acted not only independently of each other but also coordinated their actions in some areas. SS servicemen and high-ranking NKVD officers met more than once and exchanged visits on the occupied territories. For example, in December 1939 they discussed actions to crack down on the Polish resistance and coordinated large-scale resettlement operations. In 1940 the German-Soviet Refugee Commission was set up for the purpose of curbing refugee flows.

The Alliance’s Highest Point

The catastrophic consequences of the Hitler-Stalin Pact were not limited to Poland. At the highest point of the pact’s existence, in the spring of 1940, Hitler launched his Blitzkrieg campaigns across Western Europe. Large-scale supplies from the Soviet Union provided the German military machinery with raw materials, such as oil and iron. In return, Germany, based on an economic agreement reached with the USSR in February, sent eastward factory and industrial equipment. With the Germans' entry into Paris and the fall of France in June 1940, the Nazi expansion in Western Europe reached its climax. It would not have been possible without the Hitler-Stalin Pact.

Germany’s military success, achieved with no visible effort, marked a turn in the history of the German-Soviet alliance. Stalin watched Hitler with increasing mistrust and dismay. To secure a share of the “spoils,” he occupied and annexed the Baltic countries of Estonia, Latvia, and Lithuania, which had barely retained any sovereignty since 1939. “They had nowhere to go,” Molotov said decades later. “One had to protect oneself. When we laid out our demands … one’s action has to be timely or it will be too late.… They vacillated back and forth, . hesitated and finally made up their mind. We needed the Baltics.”

When the Soviet Union then staked its claims to Bessarabia and Northern Bukovina, the union cracked at every seam. Germany was interested in those Romanian regions too. Hitler reckoned on Romania’s oil fields and agricultural resources in his designs for southeastern Europe. Stalin won Bessarabia for himself, but after that, no assurances of friendship could fix the cracks in the Soviet-German alliance. Since the early fall of 1940 both powers were looking for new partners. Stalin received Britain’s ambassador-at-large in Moscow. Hitler, on September 27, signed the Tripartite Pact between the German Reich, Italy, and Japan, thus creating the Berlin-Rome-Tokyo axis.

Molotov Goes to Berlin

The November 1940 visit of the Soviet people’s commissar of foreign affairs to the German capital is usually seen as the last attempt to breathe life into the Hitler-Stalin Pact. At the same time, Hitler had already decided on a war against the USSR. The offensive was being prepared, and the army’s top brass was in the know. During the summer of 1940 military units were transferred eastward and to Finland, causing much concern in Moscow.

In the meantime, Hitler worked to set his eastern ally at loggerheads with Britain over Asia, thereby creating potential conditions for a two-front war. Hitler suggested that Stalin take India as compensation for leaving Finland and southeastern Europe to Germany, a move that Molotov deciphered easily. Although Soviet claims on Finland were fixed in the secret supplementary protocol and recognized by the Germans, Stalin’s insistence on keeping Finland for himself irritated Hitler and reinforced his anti-Bolshevik sentiments, which he never gave up. With his sense of superiority toward an ideological adversary, Hitler would never have treated the USSR as an equal, seeing it only as an inferior partner. On December 18, 1940, Hitler dictated Directive No. 21, ordering an attack on the Soviet Union. According to the directive, the Wehrmacht was to enter Soviet territory from mid- to late July 1941.

From Alliance to War

The history of the Hitler-Stalin Pact ends on June 22, 1941. Years later, at the height of the Cold War, Stalin yearned deeply for the lost treaty. “Together with the Germans we would be invincible!” Stalin’s daughter Svetlana remembered her father exclaiming. Hitler was dead set on expelling Stalin from Europe he wanted a crusade against Bolshevism. He led his campaign as a terrible war of annihilation of the USSR. The allies turned into sworn enemies and could now base their mutual hatred on long-standing ideological disagreements. Stalin would prefer to do without this war, though he did not have any principled objection to territorial conquests. But Hitler deliberately sought war, a war that, in May 1945, after unimaginable suffering and millions of deaths, ended in the Third Reich’s defeat.

The Pact and Its Memory

World War II during its first twenty-two months was a coordinated effort of Nazi Germany and the USSR. Despite its tremendous historical significance, the German-Soviet alliance is often seen as a prelude, an opening overture to the war proper, which, according to many historical accounts, unfolded only with the start of the fierce struggle between Hitler’s Reich and Stalin’s USSR. An ultimate battle between National Socialism and Stalinism was to give meaning to all the violence of the century of the ideologies. The global contradictions of the first half of the twentieth century reached their climax in the military confrontation between Hitler and Stalin. That struggle became a safe memory zone both for contemporaries and for later generations. The history of the Hitler-Stalin Pact, on the other hand, caused and continues to cause a lot of tangible discomfort.

The significance of the Hitler-Stalin Pact for the entire history of World War II remains understated. Seen only as a tactical move that allowed Hitler to attack Poland while changing nothing in his intention to destroy the USSR, the pact did not attract much attention in the context of the Third Reich’s history. The Soviet narrative treated the alliance as Stalin’s attempt to delay the supposedly inevitable war. Stalin himself circulated this interpretation in 1941. A reading that became popular in the 1990s shifted emphasis to the geopolitical partition of Eastern Europe as written down in the secret supplementary protocol. The debate over the memory of this event was of great importance to the newly independent Eastern European states that had just left the Soviet empire.

At that time, the attitude toward the pact defined the entire debate surrounding Europe’s common historical memory. The demand for equal recognition of the victims of Stalinist and Nazi terror was sometimes mistakenly seen as an attempt to deny the singularity of the Holocaust. In fact, the debate was not about downplaying the importance of the Holocaust. It was a matter of critically rethinking a Western-centered understanding of European history and a prod to remind the world of the overlooked tragedy of twentieth-century Eastern Europe. That the voices vehemently raised at the time strengthened the impression that the Hitler-Stalin Pact was primarily an Eastern European affair is one of the results of the historical work of the post–Cold War decades. Even the introduction of August 23 as the European Day of Remembrance of the Victims of Stalinism and Nazism has not changed much in that respect.


Hitler and the Rhineland, 1936 - A Decisive Turning-Point

Hitler's march into the demilitarised Rhineland heralded Churchill's 'gathering storm' – but could the Fuhrer's bluff have been called and the Second World War prevented? Sir Nicholas Hederson, who as Britain's ambassador in Washington during the Falklands crisis saw diplomatic poker eventually turn to war, offers a reassessment of the events of 1936.

We and all nations have a sense that we have come to the turning point of an age.

Hitler. March 22nd, 1936

It is tempting to look for turning points in history and try to perceive in them guidelines for later conduct. Hitler's military re-occupation of the Rhineland in March 1936, in breach of the Versailles Treaty and the freely-negotiated Treaty of Locarno, and the failure of France and Britain to offer any resistance to it, is often cited as a supreme example of where the wrong turning was taken. Eden had this precedent in view when Nasser nationalised the Suez Canal as apparently did Bush when Saddam Hussein invaded Kuwait. It was at the forefront of Mrs Thatcher's mind when she decided to resist Galtieri's occupation of the Falklands and when she urged Bush to confront Saddam Hussein.

Để tiếp tục đọc bài viết này, bạn sẽ cần phải mua quyền truy cập vào kho lưu trữ trực tuyến.

Nếu bạn đã mua quyền truy cập hoặc là người đăng ký kho lưu trữ in & amp, hãy đảm bảo rằng bạn đang đăng nhập.