Lịch sử Podcast

Hội nghị Yalta - Định nghĩa, Ngày và WW2

Hội nghị Yalta - Định nghĩa, Ngày và WW2

Hội nghị Yalta là cuộc họp của ba đồng minh trong Thế chiến II: Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Thủ tướng Liên Xô Joseph Stalin. Bộ ba gặp nhau vào tháng 2 năm 1945 tại thành phố nghỉ mát Yalta, nằm dọc theo bờ Biển Đen của Bán đảo Crimea. Các nhà lãnh đạo Đồng minh "Ba lớn" đã thảo luận về số phận sau chiến tranh của nước Đức bại trận và phần còn lại của châu Âu, các điều khoản để Liên Xô tham gia cuộc chiến đang diễn ra ở Thái Bình Dương chống lại Nhật Bản và sự hình thành và hoạt động của Liên hợp quốc mới.

Hội nghị Tehran

Trước Hội nghị Yalta, ba nhà lãnh đạo đã gặp nhau vào tháng 11 năm 1943 tại Tehran, Iran, nơi họ điều phối giai đoạn tiếp theo của cuộc chiến chống lại Các nước Trục ở châu Âu và Thái Bình Dương.

Tại Hội nghị Tehran, Hoa Kỳ và Anh đã cam kết phát động một cuộc xâm lược miền Bắc nước Pháp vào giữa năm 1944, mở ra một mặt trận khác của cuộc chiến chống lại Đức Quốc xã. Trong khi đó, Stalin đã đồng ý về nguyên tắc tham gia cuộc chiến chống Nhật ở Thái Bình Dương sau khi Đức bị đánh bại.

Đến tháng 2 năm 1945, khi Roosevelt, Churchill và Stalin tập trung trở lại tại Yalta, một chiến thắng của Đồng minh ở châu Âu đã đến gần. Sau khi giải phóng Pháp và Bỉ khỏi sự chiếm đóng của Đức Quốc xã, quân Đồng minh giờ đây đã đe dọa biên giới nước Đức; về phía đông, quân đội Liên Xô đã đánh lui quân Đức ở Ba Lan, Bulgaria và Romania và tiến được trong vòng 40 dặm từ Berlin. Điều này khiến Stalin có một lợi thế khác biệt trong cuộc họp tại khu nghỉ mát Biển Đen, một địa điểm mà chính ông đã đề xuất sau khi khẳng định các bác sĩ của ông đã cấm ông đi du lịch đường dài.

Chiến tranh Thái Bình Dương

Trong khi cuộc chiến ở châu Âu đang kết thúc, Roosevelt biết Hoa Kỳ vẫn phải đối mặt với một cuộc đấu tranh kéo dài chống lại Nhật Bản trong Chiến tranh Thái Bình Dương và muốn xác nhận sự ủng hộ của Liên Xô trong nỗ lực hạn chế thời gian kéo dài và thương vong trong cuộc xung đột đó. Tại Yalta, Stalin đồng ý rằng các lực lượng Liên Xô sẽ tham gia cùng Đồng minh trong cuộc chiến chống Nhật Bản trong vòng "hai hoặc ba tháng" sau khi Đức đầu hàng.

Để đáp lại sự hỗ trợ của mình trong Chiến tranh Thái Bình Dương, các Đồng minh khác đồng ý, Liên Xô sẽ giành quyền kiểm soát lãnh thổ Nhật Bản mà họ đã mất trong Chiến tranh Nga-Nhật 1904-05, bao gồm cả nam Sakhalin (Karafuto) và quần đảo Kuril. Stalin cũng yêu cầu Hoa Kỳ công nhận ngoại giao về nền độc lập của Mông Cổ khỏi Trung Quốc; Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ, được thành lập năm 1924, là một vệ tinh của Liên Xô.

Bộ phận của Đức

Tại Yalta, Big Three đồng ý rằng sau khi Đức đầu hàng vô điều kiện, nó sẽ được chia thành bốn khu vực chiếm đóng sau chiến tranh, do các lực lượng quân sự của Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Liên Xô kiểm soát. Thành phố Berlin cũng sẽ được chia thành các khu vực chiếm đóng tương tự. Lãnh đạo của Pháp, Charles de Gaulle, đã không được mời tham dự Hội nghị Yalta, và Stalin đồng ý chỉ đưa Pháp vào quyền quản lý của Đức sau chiến tranh nếu khu vực chiếm đóng của Pháp được lấy từ khu vực của Mỹ và Anh.

Các nhà lãnh đạo Đồng minh cũng xác định rằng nước Đức nên được phi quân sự hóa hoàn toàn và "phi quân sự hóa", và rằng nước này sẽ chịu một số trách nhiệm về bồi thường sau chiến tranh, nhưng không phải là trách nhiệm duy nhất.

Ba Lan và Đông Âu

Stalin tỏ ra cứng rắn đối với câu hỏi về Ba Lan, chỉ ra rằng trong vòng ba thập kỷ, Đức đã hai lần sử dụng quốc gia này như một hành lang để xâm lược Nga. Ông tuyên bố rằng Liên Xô sẽ không trả lại lãnh thổ ở Ba Lan mà họ đã sáp nhập vào năm 1939, và sẽ không đáp ứng các yêu cầu của chính phủ lưu vong Ba Lan có trụ sở tại London.

Stalin đã đồng ý cho phép đại diện từ các đảng phái chính trị Ba Lan khác tham gia chính phủ lâm thời do cộng sản thống trị được thành lập ở Ba Lan, và xử phạt các cuộc bầu cử tự do ở đó - một trong những mục tiêu chính của Churchill.

Ngoài ra, Liên Xô hứa sẽ cho phép bầu cử tự do ở tất cả các vùng lãnh thổ ở Đông Âu được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của Đức Quốc xã, bao gồm Tiệp Khắc, Hungary, Romania và Bulgaria. Đổi lại, Hoa Kỳ và Anh đồng ý rằng các chính phủ tương lai ở các quốc gia Đông Âu giáp với Liên Xô nên “thân thiện” với chế độ Xô Viết, đáp ứng mong muốn của Stalin về một vùng ảnh hưởng để tạo ra một vùng đệm chống lại các cuộc xung đột trong tương lai ở châu Âu.

Liên Hiệp Quốc

Tại Yalta, Stalin đồng ý để Liên Xô tham gia Liên hợp quốc, tổ chức gìn giữ hòa bình quốc tế mà Roosevelt và Churchill đã đồng ý thành lập năm 1941 như một phần của Hiến chương Đại Tây Dương. Ông đưa ra cam kết này sau khi cả ba nhà lãnh đạo đã đồng ý về một kế hoạch theo đó tất cả các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an của tổ chức sẽ nắm quyền phủ quyết.

Sau khi thảo luận về những vấn đề quan trọng này, Big Three đã đồng ý gặp lại nhau sau khi Đức đầu hàng, để hoàn thiện biên giới của châu Âu thời hậu chiến và các câu hỏi còn tồn tại khác.

James Byrnes, người đi cùng Roosevelt đến Yalta, viết trong hồi ký của mình: “Không còn nghi ngờ gì nữa, làn sóng của tình bạn Anh-Xô-Mỹ đã đạt đến một đỉnh cao mới. Mặc dù Roosevelt và Churchill cũng coi Hội nghị Yalta là một dấu hiệu cho thấy sự hợp tác trong thời chiến của họ với Liên Xô sẽ tiếp tục trong thời bình, nhưng những hy vọng lạc quan như vậy sẽ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.

Tác động của Hội nghị Yalta

Đến tháng 3 năm 1945, rõ ràng là Stalin không có ý định giữ lời hứa của mình về tự do chính trị ở Ba Lan. Thay vào đó, quân đội Liên Xô đã giúp dẹp tan bất kỳ sự chống đối nào đối với chính phủ lâm thời có trụ sở tại Lublin, Ba Lan. Khi các cuộc bầu cử cuối cùng được tổ chức vào năm 1947, họ có thể dự đoán là đã củng cố Ba Lan là một trong những quốc gia vệ tinh đầu tiên của Liên Xô ở Đông Âu.

Nhiều người Mỹ đã chỉ trích Roosevelt - người bị ốm nặng trong Hội nghị Yalta và qua đời chỉ hai tháng sau đó, vào tháng 4 năm 1945 - vì những nhượng bộ mà ông đưa ra tại Yalta liên quan đến ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Âu và Đông Bắc Á. Tổng thống Harry Truman, người kế nhiệm Roosevelt, sẽ nghi ngờ hơn nhiều đối với Stalin vào tháng 7 năm đó, khi các nhà lãnh đạo của Ba cường quốc Đồng minh lớn gặp lại nhau tại Hội nghị Potsdam ở Đức để đưa ra các điều khoản cuối cùng chấm dứt Thế chiến thứ hai ở châu Âu.

Nhưng với việc quân đội của ông ta chiếm đóng phần lớn nước Đức và Đông Âu, Stalin đã có thể phê chuẩn một cách hiệu quả các nhượng bộ mà ông ta giành được tại Yalta, tạo ra lợi thế của mình trước Truman và Churchill (người đã được thay thế giữa hội nghị bởi Thủ tướng Clement Atlee). Vào tháng 3 năm 1946, chỉ một năm sau Hội nghị Yalta, Churchill đã có bài phát biểu nổi tiếng của mình tuyên bố rằng một “bức màn sắt” đã đổ xuống khắp Đông Âu, báo hiệu sự kết thúc dứt khoát cho sự hợp tác giữa Liên Xô và các đồng minh phương Tây, và sự khởi đầu của Chiến tranh lạnh.

Nguồn

Hội nghị Yalta năm 1945. Văn phòng Sử gia, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
Terry Charman, "Churchill, Roosevelt và Stalin đã lên kế hoạch kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai như thế nào." Bảo tàng Chiến tranh Đế quốc, ngày 12 tháng 1 năm 2018.
Sự kết thúc của Chiến tranh thế giới thứ hai và sự phân chia của châu Âu. Trung tâm Nghiên cứu Châu Âu, Đại học Bắc Carolina tại Chapel Hill.


Lập kế hoạch Con đường phía trước cho Đức

Khi câu hỏi của Đức được đưa ra thảo luận, những người tham dự hội nghị đã đồng ý chia nó, cũng như thành phố Berlin thành ba phần, mỗi phần cho mỗi phe Đồng minh. Roosevelt và Churchill muốn tạo ra một khu vực thứ tư cho Pháp, nhưng Stalin cho rằng ông sẽ đồng ý với điều đó, nếu lãnh thổ dành cho nó sẽ được lấy từ các khu vực của Anh và Mỹ. Sau khi vấn đề đó đã được giải quyết, họ đồng ý rằng nước Đức sẽ phải được phi quân sự hóa và phi hạt nhân hóa.


Hội nghị Yalta

Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945 diễn ra tại Crimea. Yalta là một thành phố cổ bên bờ Biển Đen. Hội nghị chiến tranh này là nơi Ba người lớn, Franklin D. Roosevelt, Winston Churchill và Joseph Stalin ban hành Thỏa thuận Yalta, & # 34 Tuyên bố của họ về Châu Âu được giải phóng. & # 34 Hội nghị tại Yalta đã cố gắng giải quyết số phận của Châu Âu thời hậu chiến, đặc biệt là biên giới của Ba Lan, nơi chiến tranh bắt đầu sáu năm trước, và số phận của Nhật Bản, quốc gia có sự kiên cường liên tục khiến Mỹ rơi vào chiến tranh sau khi nước Đức sụp đổ. Một vấn đề khó hiểu khác, sự phân chia của Đức và Berlin, là một vấn đề lớn trên bàn. Có tầm quan trọng lớn đối với FDR là việc thành lập Liên hợp quốc. Các quyết định được đưa ra tại Yalta theo nghĩa đen đã xác định phần lớn thế giới hiện đại, về mặt chính trị, quân sự và kinh tế, đồng thời báo trước Chiến tranh Lạnh.

Vào ngày 11 tháng 9 năm 1939, chỉ vài ngày sau khi Hitler gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai bằng cách giải phóng Quân đội Đức ở Ba Lan, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt đã viết một thông điệp ngắn gọn nhưng quan trọng cho Lãnh chúa đầu tiên của Bộ Hải quân Anh, Winston Churchill. FDR viết thư cho Churchill vì anh ta đang tìm kiếm thông tin về cuộc chiến ở châu Âu và muốn thu thập thông tin đó một cách không chính thức, lặng lẽ và ở mức độ cá nhân. Đây là sự khởi đầu của mối quan hệ độc đáo giữa hai nhà lãnh đạo quan trọng nhất của Thế giới Tự do, và đã thiết lập một tiền lệ được lặp lại bởi một số tổng thống Mỹ và các nhà lãnh đạo Anh kế tiếp. Vào ngày 10 tháng 5 năm 1940, đúng ngày mà Quân đội Đức cuối cùng đã phát động cuộc tấn công được mong đợi từ lâu vào các nước Vùng thấp và nước Pháp, Churchill trở thành thủ tướng của Vương quốc Anh.

Trong suốt cuộc chiến, hai người đã trao đổi hàng nghìn tin nhắn, cuộc điện thoại và các cuộc trao đổi gián tiếp của bên thứ ba. Họ cũng đã gặp mặt trực tiếp 9 lần, bao gồm cả hai cuộc gặp nổi tiếng với thủ tướng Liên Xô Stalin tại Teheran và Yalta, tạo ra & # 34Summit Ngoại giao. & # 34 Cuộc gặp thứ chín và cuối cùng diễn ra tại Yalta. FDR chết sáu tuần sau đó.

Ngoại giao hội nghị thượng đỉnh là một loại thỏa thuận quốc tế mới có nguồn gốc từ Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, được hình thành vào năm 1893. Vào thời điểm đó, Hội đồng Tham mưu trưởng bao gồm những người đứng đầu quân đội của Lục quân và Hải quân. Việc ký kết & # 34Anglo-American Alliance & # 34 (tháng 12 năm 1941), khởi đầu cho việc thành lập Bộ Tham mưu Liên hợp, một chỉ huy quân sự chung của Anh và Mỹ có thẩm quyền đối với tất cả các hoạt động của Anh-Mỹ. Sự giao tiếp và hợp tác giữa FDR và ​​Churchill đã lên đến đỉnh điểm trong việc tạo ra Hiến chương Đại Tây Dương, trong đó phác thảo khuôn khổ cơ bản của các tổ chức NATO và Liên hợp quốc trong tương lai.

Liên minh Anh-Mỹ. Thỏa thuận này được ký khoảng ba tháng sau khi Quốc hội Mỹ tuyên chiến với Nhật Bản và tạo tiền đề cho việc Mỹ tuyên chiến với các nước Trục còn lại. Nó được ký tại Washington vào ngày 23 tháng 2 năm 1942, bởi Sumner Welles, quyền ngoại trưởng, và Tử tước Halifax, đại sứ Anh. Ý chính của thỏa thuận hậu Trân Châu Cảng này là sự thừa nhận công khai của Roosevelt về mối quan hệ chặt chẽ của Mỹ với Anh và Churchill. Về cơ bản là một hình thức, thỏa thuận đã thông báo cho những người theo chủ nghĩa biệt lập trong Quốc hội rằng Mỹ không còn có thể miễn nhiễm với chính trị và các cuộc chiến tranh ở các lục địa xa xôi.

Thỏa thuận, một phần, quy định

& # 34. trong khi Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã xác định, theo Đạo luật của Quốc hội ngày 11 tháng 3 năm 1941, rằng việc bảo vệ Vương quốc Anh chống lại sự xâm lược là quan trọng đối với việc bảo vệ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

& # 34Và trong khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã mở rộng và đang tiếp tục viện trợ cho Vương quốc Anh trong việc chống lại sự xâm lược

& # 34Và trong khi Chính phủ Hoa Kỳ và Vương quốc Anh cùng mong muốn ký kết một thỏa thuận sơ bộ về việc cung cấp viện trợ quốc phòng và liên quan đến một số cân nhắc sẽ được tính đến khi xác định các điều khoản đó và các điều kiện và việc thực hiện một thỏa thuận như vậy đã được ủy quyền hợp lệ trên mọi phương diện, và tất cả các hành vi, điều kiện và thủ tục mà nó có thể cần thiết để thực hiện, thực hiện hoặc thực hiện trước khi thực hiện một thỏa thuận đó phù hợp với luật của một trong hai Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hoặc Vương quốc Anh đã được thực hiện, hoàn thành hoặc thực hiện theo yêu cầu. ”

Đạo luật cho thuê. Thỏa thuận được thực hiện sau đó vài tuần với Đạo luật cho thuê, quy định rằng tổng thống có thể ủy quyền vận chuyển vũ khí, thực phẩm hoặc thiết bị cho bất kỳ quốc gia nào có cuộc đấu tranh chống lại phe Trục hỗ trợ quốc phòng của Mỹ. Bằng cách trang bị lại sản lượng công nghiệp của Hoa Kỳ theo yêu cầu của chiến tranh, Lend-Lease hầu như loại bỏ bất kỳ dấu hiệu trung lập nào của Hoa Kỳ. Yalta: Những quyết định thay đổi thế giới Hội nghị tại Yalta đã đưa ra những quyết định được cho là quan trọng nhất của thế kỷ 20, có lẽ là của lịch sử hiện đại. Roosevelt, Churchill và Stalin đã tạo nên phần lớn thế giới hiện đại và bắt đầu khởi động việc thành lập nền tảng của chính phủ thế giới thực đầu tiên trên thế giới, Liên Hợp Quốc. Việc thiết lập trật tự ở châu Âu và xây dựng lại đời sống kinh tế quốc gia theo Kế hoạch Marshall đã đạt được nhờ các quá trình cho phép các dân tộc được giải phóng tiêu diệt những dấu tích cuối cùng của chủ nghĩa phát xít và tạo ra các thể chế dân chủ theo lựa chọn của họ. Đây là một nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương - quyền của tất cả mọi người được lựa chọn hình thức chính phủ mà họ sẽ sống - khôi phục quyền chủ quyền và quyền tự trị cho những dân tộc đã bị các quốc gia xâm lược cưỡng bức tước đoạt.


Nội dung

Tolstoy mô tả các nhóm khác nhau gồm hơn năm triệu người Nga đã rơi vào tay quân Đức. Chúng bao gồm tù binh chiến tranh, lao động cưỡng bức (Ostarbeiter), những người cộng tác, những người tị nạn, những người phản động, và những người chống cộng. Các điều kiện ở Đức đối với các tù nhân Liên Xô rất kinh khủng và tỷ lệ tử vong của họ cao, khiến nhiều người trở nên hấp dẫn gia nhập lực lượng lao động, quân đội phụ trợ của Nga hoặc Quân giải phóng Nga (ROA). Tình hình đối với các binh sĩ Nga rất phức tạp do lập trường của chính phủ Liên Xô bác bỏ nỗ lực can thiệp của Hội Chữ thập đỏ quốc tế và coi bất kỳ ai đầu hàng kẻ thù đều là kẻ phản bội. Hội nghị Matxcơva năm 1944 và hiệp định Yalta đã đặt cơ sở cho sự tham gia của chính phủ Anh và Mỹ nhằm hỗ trợ chương trình hồi hương của chính phủ Liên Xô. Tolstoy đặc biệt chỉ trích vai trò của Anthony Eden trong việc cố gắng xoa dịu Liên Xô.

Trong cuốn sách của mình, Tolstoy mô tả số phận của nhiều nhóm khác nhau:

  • Những người Nga phục vụ Đức bị bắt ở Bắc Phi, Ý và Pháp sau cuộc đổ bộ Normandy thường bao gồm các lực lượng lao động cưỡng bức hoặc, sau Normandy, cũng là những người Nga chiến đấu trong bối cảnh của Quân đội Đức. Quá trình hồi hương dẫn đến việc họ bị hành quyết hoặc vận chuyển đến các trại lao động, chẳng hạn như Vorkuta. [1] từ Don, Kuban và Terek, và một số nhóm từ Caucasus đã chống lại Liên Xô trong Nội chiến Nga, đã bị đàn áp dưới thời Joseph Stalin, và khi quân đội Đức đến vào năm 1942 hy vọng có thể tiếp tục. cuộc đấu tranh của họ với sự giúp đỡ của Đức. Trong cuộc rút lui của quân Đức, họ cùng gia đình di chuyển về phía tây và kết thúc cuộc chiến ở Carinthia và gần Lienz, thuộc Áo. Các nhà lãnh đạo của họ bao gồm AtamanPavlov (ru, mất năm 1944), Peter Krasnov, Vyacheslav Naumenko, Timofey Domanov, Sultan Kelech Ghirey và Andrei Shkuro. Những nhóm này, ước tính lên tới khoảng 35.000 người, đã đầu hàng Anh vào đầu tháng 5 năm 1945, những người đã giao tất cả người Cossacks và người da trắng (ngay cả khi họ không phải là công dân Liên Xô) cho NKVD của Liên Xô trong vòng bốn tuần. Nhiều người Cossack bị hành quyết ở Judenburg và phần còn lại bị đưa về phương Đông. [2]
  • Quân đoàn kỵ binh Cossack SS thứ XV do Helmuth von Pannwitz chỉ huy đã đầu hàng quân Anh gần Volkermarkt, thuộc Áo, vào ngày 10 tháng 5 năm 1945. Đến cuối tháng 5, 17.702 binh sĩ, bao gồm cả sĩ quan Đức của họ, và một số phụ nữ và trẻ em, đã được bàn giao. đến NKVD của Liên Xô tại Judenburg. [3]
  • Quân Giải phóng Nga thành lập vào cuối Thế chiến II gần Praha. Một phần trong số đó đã giúp giải phóng thành phố khỏi sự chiếm đóng của Đức, chỉ để chiến đấu cùng với quân Đức vài ngày sau đó để thoát khỏi sự chiếm đóng của Hồng quân. Tuy nhiên, nhiều người đã đầu hàng Hồng quân, những người khác bị truy lùng, và một số trốn thoát cho người Mỹ gần Pilsen, chỉ để được giao cho Liên Xô. Vlasov, chỉ huy của nó, đã bị người Mỹ bắt giữ và cũng được hồi hương. Các trại hành quyết, tra tấn và lao động đang chờ đợi họ. [4]
  • Sư đoàn người Thổ Nhĩ Kỳ số 162 được thành lập từ những người đàn ông từ Caucasus và từ vùng đất Turkic xa hơn về phía đông, và chiến đấu tại Ý, lực lượng chính của họ đầu hàng gần Padua vào tháng 5 năm 1945. Họ được gửi đến một trại tù binh gần Taranto và được chuyển đến Odessa. Họ nhận được 20 năm lao động khổ sai.
  • Với sự đầu hàng của Đức vào ngày 8 tháng 5 năm 1945, một số lượng lớn người Nga đã được giải phóng, bao gồm tù binh, người Hiwis (tình nguyện viên trong quân đội) và lao động nô lệ (Ostarbeiter). Những khu vực thuộc quyền kiểm soát của Liên Xô thuộc quyền sở hữu trực tiếp của Liên Xô. Những người ở các khu vực do Đồng minh phương Tây kiểm soát phải được hồi hương. Đến ngày 4 tháng 7 năm 1945, hơn 1,5 triệu người Nga đã được SHAEF chuyển đến làm người di cư (DP) đến Vùng chiếm đóng của Liên Xô. [5] là quá trình hồi hương cuối cùng diễn ra tại Ý trong khoảng thời gian từ ngày 14 tháng 8 năm 1946 đến ngày 8-9 tháng 5 năm 1947. [6]

Trong khi Tolstoy chủ yếu thảo luận về phản ứng của người Anh và người Mỹ trước yêu cầu hồi hương của Liên Xô, ông cũng mô tả hành động của các chính phủ khác. Các chương trình hồi hương đã được thực hiện ở Bỉ, Phần Lan, Pháp, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sĩ. Quốc gia duy nhất được biết là đã từ chối yêu cầu buộc những người Nga không muốn hồi hương là Liechtenstein. [7] Ông thảo luận về lý do tại sao các chính phủ sẵn sàng tham gia vào chương trình hồi hương, ngay cả khi rõ ràng là nhiều người Nga không muốn trở về và số phận của những người hồi hương là cái chết, bị tra tấn hoặc lao động cưỡng bức. Một vấn đề đối với các Đồng minh phương Tây là sự có đi có lại, cụ thể là mối quan tâm đối với những tù nhân của họ đã rơi vào tay Liên Xô. Trong khi Tolstoy có quyền truy cập vào các tài liệu của Anh được mở 30 năm sau Thế chiến II, ông cho biết các tài liệu của Liên Xô vẫn được niêm phong. Nói chung, về phía họ, các đặc vụ từ NKVD hoặc SMERSH đã tiến hành xử lý những người hồi hương. Tolstoy, tuy nhiên, cũng lấy được thông tin từ những người sống sót và đào tẩu. Theo ước tính của ông, dựa trên dữ liệu của một cựu sĩ quan NKVD, có tổng cộng 5,5 triệu người Nga đã hồi hương từ các khu vực bị chiếm đóng trước đây, trong số này 20% bị kết án tử hình hoặc tù 25 năm, 15–20% nhận án. trong 5 đến 10 năm, 10% bị lưu đày từ 6 năm trở lên, 15% làm lính nghĩa vụ trong các khu vực được chỉ định và không được phép trở về nhà sau đó, và 15–20% được phép trở về nhà nhưng vẫn bị tẩy chay. [8] Phần còn lại là "hao phí", tức là những người chết trong quá trình vận chuyển, bị lạc hoặc trốn thoát.

Tolstoy ước tính rằng tổng thể, có hai hoặc hơn hai triệu công dân Liên Xô đã được hồi hương. [9] Các nỗ lực hồi hương được người Anh theo đuổi một cách hăng hái nhất, trong khi các lực lượng Mỹ thì hòa giải với các yêu cầu của Liên Xô nhưng Tolstoy lưu ý rằng sự miễn cưỡng ngày càng tăng. Trong khi chính phủ Liên Xô cũng cố gắng "hồi hương" người dân của các quốc gia mà họ đã chinh phục trong và sau năm 1939, thì Đồng minh phương Tây đã chống lại việc đưa hàng triệu người có thể trở về từ Bessarabia, Estonia, Latvia, Litva và Ba Lan.

Trong ấn bản của Mỹ xuất hiện sau ấn bản của Anh, Tolstoy đã thêm một phần tái bút chỉ ra một số phản hồi ban đầu cho cuốn sách và thêm một số ghi chú bổ sung. Tolstoy đã theo dõi các cuộc điều tra của mình với Cuộc chiến bí mật của Stalin (1981) và Bộ trưởng và các vụ thảm sát (1986). Trong những cuốn sách này, ông đề cập nhiều hơn đến vấn đề rằng vào tháng 5 năm 1945, các lực lượng Anh ở Carinthia đã trao trả những người di cư từ Nga không phải là công dân Liên Xô và sau đó, biên niên sử cũng là người Anh trả tự do cho những người Slovenes và Croatia chống cộng sản cho Josip Broz. Chính phủ Nam Tư của Tito. Cuốn cuối cùng trong số ba cuốn sách đặc biệt gây tranh cãi, và nó dẫn đến một vụ kiện phỉ báng năm 1989, trong đó Lord Aldington thắng kiện trước cáo buộc của Tolstoy rằng ông là "tội phạm chiến tranh".

Alistair Horne, người viết tiểu sử của Macmillan, mô tả Nạn nhân của Yalta là "một cuốn sách đáng trân trọng và đáng lo ngại sâu sắc, không gây được tiếng vang", nhưng ông rất phê bình những cuốn sách tiếp theo của Tolstoy, cho rằng sự cứng nhắc ngày càng tăng và xu hướng vặn vẹo bằng chứng để phù hợp với một lý thuyết định kiến ​​trước đã chứng minh chúng là những tác phẩm nghiêm túc. Môn lịch sử. Horne cũng lưu ý rằng Macmillan, lúc đó 90 tuổi, cảm thấy mình đã quá già để bắt đầu mặc đồ để tự vệ. Phán quyết cuối cùng của Horne là bằng chứng mới mẻ đó, được phát hiện sau khi xuất bản Nạn nhân của Yalta, chứng tỏ quan niệm của Tolstoy về một âm mưu không chỉ là sai lầm, mà hoàn toàn sai lầm. [10]


Hội nghị Yalta năm 1945

(Hội nghị Crimean), hội nghị của những người đứng đầu chính phủ của ba cường quốc Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai: J. V. Stalin, chủ tịch Hội đồng nhân dân và các ủy viên của Liên Xô FD Roosevelt, tổng thống Hoa Kỳ và W. Churchill, thủ tướng của Nước Anh. Tham dự còn có các bộ trưởng ngoại giao, các tổng tham mưu trưởng và các cố vấn khác.

Hội nghị được tổ chức tại Yalta từ ngày 4 tháng 2 đến ngày 11 tháng 2, vào thời điểm Quân đội Liên Xô đã tiến sâu vào lãnh thổ Đức và cuộc chiến đã bước vào giai đoạn cuối. Tại Hội nghị Yalta, các kế hoạch quân sự của các cường quốc đã được phối hợp để mang lại sự thất bại hoàn toàn trước Đức Quốc xã, mối quan hệ của các cường quốc đối với Đức sau khi nước này đầu hàng vô điều kiện đã được xác định, và các nguyên tắc chính sách cơ bản liên quan đến tổ chức thế giới thời hậu chiến đã được thiết lập ra ngoài.

Người ta quyết định rằng, sau khi sự kháng cự vũ trang của Đức đã hoàn toàn bị dập tắt, các lực lượng vũ trang của Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh sẽ chiếm đóng Đức hơn nữa, lực lượng của mỗi cường quốc sẽ chiếm một phần (khu vực) nhất định của Đức. Một chính quyền Đồng minh phối hợp sẽ được thiết lập ở Đức, và việc giám sát kiểm soát sẽ được thiết lập, được thực hiện bởi một cơ quan kiểm soát được thành lập đặc biệt bao gồm các chỉ huy trưởng của ba cường quốc, có trụ sở chính tại Berlin. Hơn nữa, đã đồng ý rằng Pháp sẽ được mời phụ trách một khu vực chiếm đóng và là thành viên thứ tư của cơ quan kiểm soát. Quy định cụ thể về vấn đề các khu vực chiếm đóng ở Đức đã được thống nhất trước Hội nghị Yalta, tại cuộc họp của Ủy ban Cố vấn Châu Âu, và được ghi lại vào ngày 12 tháng 9 năm 1944, trong các thỏa thuận giao thức giữa các chính phủ Liên Xô, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh liên quan đến các khu vực chiếm đóng của Đức và quản lý của & ldquoGreater Berlin. & rdquo

Những người tham gia Hội nghị Yalta tuyên bố rằng mục tiêu vững chắc của họ là tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Đức và chủ nghĩa Quốc xã cũng như thiết lập một đảm bảo rằng & ldquoGermany sẽ không bao giờ có thể phá hủy hòa bình của thế giới nữa. & Rdquo Họ cam kết & ldquodisarm và giải tán tất cả các lực lượng vũ trang của Đức tan rã mọi lúc bộ tổng tham mưu của Đức, & rdquo để & ldquoremove hoặc phá hủy tất cả các thiết bị quân sự của Đức, để loại bỏ hoặc kiểm soát tất cả các ngành công nghiệp của Đức có thể được sử dụng cho sản xuất quân sự và đưa tất cả tội phạm chiến tranh đến một cách công bằng và nhanh chóng trừng phạt và xóa sổ Đảng Quốc xã, luật pháp, tổ chức và thể chế của Đức Quốc xã, xóa bỏ mọi ảnh hưởng của Đức Quốc xã và quân phiệt khỏi văn phòng công quyền cũng như đời sống văn hóa và kinh tế của người dân Đức. & rdquo

Thông cáo chung của Hội nghị Yalta nhấn mạnh rằng sau khi chủ nghĩa Quốc xã và chủ nghĩa quân phiệt đã bị loại bỏ, người dân Đức có thể chiếm một vị trí xứng đáng trong cộng đồng các quốc gia. Các ý kiến ​​đã được trao đổi về câu hỏi về các khoản thanh toán bồi thường từ Đức.

Hội nghị Yalta đã thông qua một nghị quyết về vấn đề thành lập một tổ chức quốc tế chung. Những người tham gia hội nghị quyết định rằng vào ngày 25 tháng 4 năm 1945, tại San Francisco (Mỹ), một hội nghị sẽ được triệu tập để chuẩn bị văn bản cuối cùng của Hiến chương Liên hợp quốc. Người ta quy định rằng cơ sở của hoạt động LHQ & rsquos trong việc giải quyết các vấn đề cốt yếu về gìn giữ hòa bình sẽ là nguyên tắc cơ bản của sự nhất trí giữa các cường quốc & mdash thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ.

Hội nghị Yalta đã thông qua Tuyên bố về Châu Âu được giải phóng, trong đó các cường quốc Đồng minh nêu ý định phối hợp hành động của họ trong việc giải quyết các vấn đề chính trị và kinh tế của Châu Âu được giải phóng. Tuyên bố nêu rõ: & ldquoT Việc thiết lập trật tự ở Châu Âu và xây dựng lại đời sống kinh tế quốc gia phải được thực hiện bằng các quá trình giúp các dân tộc được giải phóng có thể phá hủy những dấu tích cuối cùng của Chủ nghĩa Quốc xã và Chủ nghĩa Phát xít cũng như tạo ra các thể chế dân chủ theo lựa chọn của họ. & Rdquo

Liên quan đến câu hỏi của Ba Lan, thông cáo & chính thức của Hội nghị Yalta bày tỏ & ldquocommon mong muốn được thấy rằng việc thành lập một Ba Lan mạnh mẽ, tự do, độc lập và dân chủ. & Rdquo đã đạt được Thỏa thuận về việc thành lập một chính phủ Ba Lan trên diện rộng, bao gồm các nhà lãnh đạo dân chủ từ Bản thân Ba Lan cũng như người Ba Lan từ nước ngoài. Người ta đã quyết định rằng biên giới Liên Xô-Ba Lan nên kéo dài dọc theo Đường Curzon, với sự thay đổi ở một số vùng nhất định kéo dài 5 & ndash8 km ở Ba Lan & rsquos, và Ba Lan sẽ có được lãnh thổ đáng kể ở phía bắc và phía tây.

Đối với Nam Tư, Hội nghị Yalta đã thông qua một số khuyến nghị liên quan đến việc thành lập một chính phủ thống nhất lâm thời và thành lập một quốc hội tạm thời, dựa trên Quốc hội Giải phóng Dân tộc Chống Phát xít.

Hội nghị Yalta đã thông qua Thỏa thuận giữa ba cường quốc về các câu hỏi của Viễn Đông, thỏa thuận cho phép Liên Xô & rsquos tham gia cuộc chiến chống Nhật Bản trong vòng hai hoặc ba tháng sau khi Đức & rsquos đầu hàng và kết thúc chiến tranh ở châu Âu. Thỏa thuận quy định rằng khi chiến tranh & rsquos kết thúc, phần phía nam của đảo Sakhalin sẽ được trả lại cho Liên Xô cùng với tất cả các đảo lân cận và quần đảo Kuril cũng sẽ được chuyển giao cho Liên Xô.

Hội nghị Yalta cũng xem xét vấn đề thiết lập bộ máy thường trực cho các cuộc tham vấn thường xuyên giữa các bộ trưởng ngoại giao của ba cường quốc.

Trong thông cáo & chính thức của Hội nghị Yalta, ba cường quốc Đồng minh đã bày tỏ & ldquod quyết tâm của họ để duy trì và củng cố trong hòa bình để đạt được sự thống nhất về mục đích và hành động đã tạo nên chiến thắng và chắc chắn cho Liên hợp quốc trong cuộc chiến này. & Rdquo

Nhiều nghị quyết của Hội nghị Yalta, cũng như các thỏa thuận chung khác do các cường quốc Đồng minh đưa ra trong thời kỳ chiến tranh và khi kết thúc, đã không được thực hiện trong những năm sau chiến tranh. Đây là lỗi của các cường quốc phương Tây, những người đã kích động & ldquocold chiến tranh & rdquo chống lại các nước xã hội chủ nghĩa và cố gắng hồi sinh chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa xét lại của Tây Đức.


Hội nghị Yalta

Hội nghị Yalta được tổ chức từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 2 năm 1945, gần cuối năm Chiến tranh Thế giới II (1939–45). Thủ tướng Anh Winston Churchill (1874–1965), Thủ tướng Liên Xô Joseph Stalin (1878–1953), và tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt (1882–1945 phục vụ 1933–45) gặp nhau tại Yalta trên Bán đảo Krym thuộc Liên Xô. Là nhà lãnh đạo của Đồng minh họ tập hợp lại để thảo luận về các chi tiết chính trị về sự đầu hàng dự kiến ​​của Đức và thế giới sau chiến tranh.

Hội nghị tại Yalta đánh dấu đỉnh cao hợp tác giữa các nhà lãnh đạo Đồng minh. Tuy nhiên, mục tiêu và tính cách mâu thuẫn, các cuộc thảo luận căng thẳng và đòi hỏi nhiều thỏa hiệp. Tương lai của Đức và các nước bị chiếm đóng, vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến chống Nhật Bản, ranh giới của Ba Lan và các chi tiết liên quan đến sự phát triển của một tổ chức an ninh quốc tế đều là những chủ đề quan trọng mà các nhà lãnh đạo đã thảo luận. Nhiều vấn đề khác không được đề cập tại hội nghị.

Vào thời điểm diễn ra hội nghị, Đức vẫn chưa đầu hàng, nhưng dự kiến ​​sẽ làm như vậy trong những tuần tới. Phần lớn cuộc thảo luận giữa các nhà lãnh đạo Đồng minh liên quan đến những yêu cầu mà họ sẽ đặt ra đối với Đức và các đồng minh của nước này trong tiến trình hòa bình. Stalin muốn có một chính sách khắc nghiệt có thể vô hiệu hóa nước Đức gây chiến trở lại. Ông yêu cầu các khoản bồi thường, hoặc thanh toán chi phí chiến tranh cho Đồng minh phải cao. Churchill muốn duy trì một nền kinh tế lành mạnh ở Đức trong khi vẫn vô hiệu hóa các ngành công nghiệp chiến tranh của nó. Vị trí của Roosevelt ở đâu đó ở giữa.

Cuối cùng, quyết định về việc bồi thường đã bị hoãn lại và được trao cho một ủy ban để nghiên cứu. Ba nhà lãnh đạo nhất trí rằng nước Đức sẽ được chia thành 4 vùng chiếm đóng sau khi đầu hàng. Mỗi quốc gia trong số ba quốc gia và Pháp sẽ chịu trách nhiệm về một trong các khu vực cho đến khi một chính phủ mới có thể được thành lập. Một chính sách chiếm đóng chung sẽ được xác định bởi một Hội đồng Kiểm soát Đồng minh, còn được gọi là Bốn quyền lực, ở Berlin. Các nước châu Âu mới được giải phóng khác cũng phải nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ của Đồng minh cho đến khi các cuộc bầu cử tự do cho các chính phủ mới có thể được tổ chức.

Trong khi sự đầu hàng của Đức dường như chắc chắn, thì không rõ ràng là Nhật Bản sẽ thực hiện bước tương tự. Đến năm 1945, Liên Xô vẫn chưa tham chiến chống Nhật. Ba nhà lãnh đạo đã thiết lập một thỏa thuận bí mật rằng Liên Xô sẽ tham chiến chống lại Nhật Bản trong vòng hai đến ba tháng sau khi Đức đầu hàng. Đổi lại, Liên Xô sẽ được trao một số lãnh thổ nhất định mà Nhật Bản giành được trong Chiến tranh Nga-Nhật 1904–5.

Stalin cũng rất quan tâm đến nước láng giềng của ông, Ba Lan. Tìm kiếm sự an toàn của một chính phủ thân thiện, Stalin hy vọng sẽ thuyết phục được Churchill và Roosevelt công nhận Ủy ban Giải phóng Quốc gia Ba Lan, một chính phủ cộng sản. Tuy nhiên, cả hai nhà lãnh đạo đều đã thừa nhận một chính phủ Ba Lan lưu vong ở London. Không có ai sẵn sàng

để thay đổi lòng trung thành, người ta đã quyết định cả hai chính phủ cùng nhau thành lập một chính phủ lâm thời thống nhất. Các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức càng sớm càng tốt. Stalin đề xuất sự thay đổi ranh giới của Ba Lan, theo đó nước này sẽ giành lại lãnh thổ mà Liên Xô đã mất trước đây sau khi Thế Chiến thứ nhất (1914–18). Sau nhiều cuộc đàm phán, ranh giới của Ba Lan đã được thay đổi, và Liên Xô giành được lãnh thổ từ phần phía đông của Ba Lan. Để bù đắp cho sự mất mát của Ba Lan, Đức sẽ được yêu cầu di chuyển ranh giới phía đông để trao cho Ba Lan một phần lãnh thổ của mình.

Khái niệm về một tổ chức an ninh quốc tế lần đầu tiên được đề xuất vào năm 1941. Đến năm 1944, các bộ trưởng ngoại giao của ba nước đã thành lập một cơ cấu tổ chức được gọi là Liên hợp quốc. Trong hội nghị, các kế hoạch đã được đưa ra cho một hội nghị quốc tế được tổ chức để thành lập Liên hợp quốc. Nó được lên kế hoạch đến San Francisco vào tháng 4 năm 1945.

Trước khi thành lập Liên hợp quốc, có nhiều vấn đề quan trọng cần được thảo luận tại Yalta. Stalin muốn mỗi nước cộng hòa thuộc Liên Xô được coi là các nước độc lập. Với địa vị như vậy, ông hy vọng sẽ giành được mười sáu ghế trong Đại hội đồng, cơ quan điều hành chung của Liên hợp quốc. Ông cũng thúc đẩy khả năng phủ quyết mọi vấn đề trước Hội đồng Bảo an, vốn có quyền lực vượt trội hơn so với Đại hội đồng. Sau nhiều cuộc thảo luận, Stalin đã từ bỏ yêu cầu của mình. Instead he agreed to send a representative to the founding meeting scheduled for San Francisco.


Hội nghị Yalta

Các Hội nghị Yalta, còn được gọi là Crimea Conference and codenamed Argonaut, held February 4–11, 1945, was the World War II meeting of the heads of government of the United States, the United Kingdom, and the Soviet Union to discuss the postwar reorganization of Germany and Europe. The three states were represented by President Franklin D. Roosevelt, Prime Minister Winston Churchill, and Premier Joseph Stalin, respectively. The conference was held near Yalta in Crimea, Soviet Union, within the Livadia, Yusupov, and Vorontsov Palaces.

The aim of the conference was to shape a postwar peace that represented not only a collective security order but also a plan to give self-determination to the liberated peoples of Europe. The meeting was intended mainly to discuss the re-establishment of the nations of war-torn Europe. However, within a few years, with the Cold War dividing the continent, the conference became a subject of intense controversy.

Yalta was the second of three major wartime conferences among the Big Three. It was preceded by the Tehran Conference in November 1943 and was followed by the Potsdam Conference in July 1945. It was also preceded by a conference in Moscow in October 1944, not attended by Roosevelt, in which Churchill and Stalin had spoken of European Western and Soviet spheres of influence. [1]


Agendas

Each leader came to Yalta with an agenda. Roosevelt desired Soviet military support against Japan following the defeat of Germany and Soviet participation in the United Nations, while Churchill was focused on securing free elections for Soviet-liberated countries in Eastern Europe. Counter to Churchill's desire, Stalin sought to build a Soviet sphere of influence in Eastern Europe to protect against future threats. In addition to these long-term issues, the three powers also needed to develop a plan for governing postwar Germany.


Giới thiệu

In February 1945 President Franklin D. Roosevelt conferred with Prime Minister Churchill at Malta in the Mediterranean, with Prime Minister Churchill and Marshal Stalin at Yalta in the Crimea, and again with Churchill at Alexandria in Egypt. Since these three conferences were thus closely related chronologically, it was initially decided to include the documentation of all three conferences in the present volume. No unpublished documentation could be found, however, for the Alexandria Conference, which consisted merely of a private conversation on February 15 between Roosevelt and Churchill . Apparently no record of this conversation was made either by or for the President, and no documents were prepared for, or were produced at, the Alexandria discussion. Accordingly, the present volume is limited in fact to the conferences at Malta and Yalta. 1

The Malta Conference, which began on January 30 and lasted through February 2, consisted of a series of discussions designed primarily to coordinate American and British views on a number of important problems which were expected to come up with the Russians at Yalta a few days later. Most of the Malta discussions concerned military topics and centered around five meetings of the Anglo-American Combined Chiefs of Staff. The first four of these meetings were held at Montgomery House, in a suburb of Valletta, while the fifth, with Roosevelt and Churchill in attendance, was aboard the U. S. S. Quincy . There were also political discussions, one of which took place aboard H. M. S. Sinus , between Secretary of State Edward R. Stettinius, Jr. , and the British Secretary of State for Foreign Affairs, Anthony Eden , together with their principal advisers.

President Roosevelt arrived at Malta on the morning of February 2 and participated during that day in discussions ashore and aboard the [Page XII] U. S. S. Quincy with Prime Minister Churchill and with the American and British Chiefs of Staff.

Most of the American and British representatives who participated in the Malta Conference proceeded by plane on February 3 to the Crimea, where the tripartite conference with the Russians took place from February 4 to February 11. Although the officially approved name of this meeting was “The Crimea Conference”, the term “Yalta Conference” has become so widely accepted that it has been used throughout the present volume. As a matter of fact, the conference did not meet in the city of Yalta itself. The American delegation was housed in Livadia Palace about two miles southwest of Yalta on the coastal road, and it was here that a majority of the conference meetings were held. The Soviet delegation occupied the Yusupov Palace, located several miles farther west in the village of Koreiz, while the British delegation was accommodated in the Vorontsov Villa at Alupka, about two miles beyond Koreiz. Although the names “Koreiz” and “Alupka” have been retained on those few documents in this volume on which they appear, the editors have used only the word “Yalta” as the designation of the conference site wherever such indication needed to be supplied.

The editors have presented in this volume as definitive and comprehensive a coverage of the Malta and Yalta conferences as could be made at the present time. To achieve this purpose it was necessary to obtain much documentation that was never in the files of the Department of State, notably presidential and military papers.

A few papers pertinent to the Malta and Yalta conferences had been obtained by the Department of State from the White House, beginning as early as 1946. By 1950 all White House papers prepared by or for President Roosevelt had been sent to the Franklin D. Roosevelt Library at Hyde Park, New York. In order to facilitate the collection of source material for the present volume the Department of State in 1953 asked for the cooperation of the Roosevelt Library. The Director of this Library, with the approval of the Archivist of the United States, set up a special project to identify and microfilm for the editors of this volume all documents pertinent to these two conferences from the Roosevelt and Hopkins Papers in the custody of the Library.

Since the files of the Department of State contained very few papers on the military staff discussions at Malta and Yalta, the Department of State also obtained the assistance of the Department of Defense in locating and releasing documents from the military records of these conferences. This type of material consists of papers documenting the official position or advice of the War and Navy Departments on [Page XIII] politico-military subjects discussed at the international level, as presented by the civilian leaders of those departments and by the American Joint Chiefs of Staff and the Anglo-American Combined Chiefs of Staff, together with instructions and interpretations on such subjects given to those departments by the President. In addition, a few other papers originating with or transmitted by military authorities have been included where appropriate to clarify references or to set forth information pertinent to the conferences which was given to the President or to his principal advisers. In the selection of military papers the emphasis has been placed upon those relating to subjects with significant implications for the foreign relations of the United States.

This volume, therefore, includes the relevant papers on the Malta and Yalta Conferences from the files of the Department of State, the Department of Defense, and the Franklin D. Roosevelt Library, together with some papers obtained earlier from the White House. The conference documentation as a whole is not so complete as might be desired, since records of some of the conference discussions do not exist, and since there may be papers of significance among private collections to which access has not been granted.

The editors have sought access to the private papers of individuals who attended the conferences. Certain of these persons have contributed useful comments and suggestions, and some have written memoirs which have been of great value in compiling this official record. Some papers have not become available for inclusion, among them the personal notes of Mr. James F. Byrnes , Director of the Office of War Mobilization and Reconversion at that time the personal papers of Mr. W. Averell Harriman , Ambassador to the Soviet Union at the time and, more particularly, the papers of Mr. Edward R. Stettinius, Jr. , who was present as Secretary of State.

Organization of the Volume

The volume is divided into three major segments. Part I contains pre-conference background material Part II presents the records of the conference at Malta Part III consists of the records of the Yalta Conference.

The inclusion of the background material comprising Part I (Chapters 1–4) was necessitated by the fact that the annual Foreign Relations volumes for the years of World War II have not yet been published. Accordingly, the editors felt obliged to include in this volume a considerable quantity of pre-conference material in order to indicate at least the general outlines of the historical setting in which the conferences at Malta and Yalta took place. Chapter 1 of this pre-conference documentation shows how the arrangements were made for holding the conferences. Chapter 2 contains correspondence, memoranda, and Briefing Book papers showing the pre-conference status of [Page XIV] United States policy on the principal subjects discussed at Malta and Yalta. For most of these subjects, the documentation presented herein goes back no further than the autumn of 1944. Obviously a full historical coverage of these subjects will have to await the appearance of the Foreign Relations volumes for the years 1941–1945. Chapter 3 comprises excerpts pertinent to those conference subjects from the so-called Record (official diary) of Secretary of State Edward R. Stettinius, Jr. , for the period from December 1, 1944, the day on which he took the oath of office as Secretary, to January 23, 1945, the day before he left Washington for the trip to the Mediterranean and the Black Sea. (His records for the conferences themselves are not available.) Chapter 4 contains two high-level reports surveying the broad lines of Soviet policy on the eve of the conferences.

The records of the conferences themselves (Parts II and III) are organized as follows: (1) At the beginning of each conference (Chapters 5 and 7) there are presented those portions of President Roosevelt ’s Log which pertain to the days of each conference. 2 This furnishes an over-all calendar of events for the one day on which the President was in attendance at Malta and for all eight days of the conference at Yalta.

(2) Following the excerpts from the Log for each conference, there appear the minutes and related documents of Malta and Yalta respectively, arranged by meetings in chronological order (Chapters 6 and 8). The documents, regardless of their respective dates and subjects, have been placed after the minutes of the meeting to which they refer, or at which they were first discussed.

(3) For the Yalta Conference there are three additional chapters containing documents of a type not found for Malta. Chapter 9, entitled “Other Conference Documents”, contains papers which bear directly on Yalta discussions but are not closely enough related to any specific minutes to be included in Chapter 8. Chapter 10 presents literal prints of the English texts of the agreements signed at Yalta. Chapter 11 consists of such hitherto unpublished documents as could be found which were prepared by conference participants after the conference, describing factually certain of the proceedings at Yalta.

Categories of Conference Records

The records of the conferences themselves fall into three major categories: (1) minutes of international discussions in which American representatives participated with either the British or the Russians or both (2) documents which figured in the international negotiations at the conferences (3) intradelegation documentation relating to [Page XV] conference subjects. The scope of coverage in each of these categories is as follows:

(1) Minutes of International Meetings —Even with the addition of documents from the White House, the Department of Defense, and the Franklin D. Roosevelt Library, the official American record of the international discussions at these conferences contains some gaps. For Malta there are minutes (reproduced herein) of all the meetings of the Combined Chiefs of Staff, but on the political side there are minutes for only one of the several meetings of the Foreign Secretaries and no American minutes of the Roosevelt - Churchill talks. With respect to the Yalta conference there are minutes of all international military meetings in which the United States Chiefs of Staff participated, and these are included in this volume. No records have been found, however, of the private Roosevelt - Churchill meetings. There are minutes or notes on most of the other political discussions but these are not so complete or definitive as might be desired. On this point the late Secretary of State Stettinius wrote as follows:

“It would . . . have been better at Yalta to have had a stenographic record made of the discussions. The record then could have been distributed to and approved by each delegation and become the official record of the proceedings. There was, however, no single official record of the meetings, nor was there any stenotypist recording every word. Instead, each delegation kept its own minutes. Bridges , for instance, took notes in shorthand for the British, while Bohlen had the double task of interpreting and note taking for the United States. In addition, some members of the American delegation, at least, kept their own personal notes. Every noon at the foreign ministers’ meetings to discuss problems assigned by the three leaders, Edward Page of the American Embassy in Moscow served both as interpreter and as note taker for the American delegation. …”

“The military followed a different practice in keeping a record of their discussions. Although each of the three nations had its own representative taking notes, these three individuals cleared their versions with each other and with all the participants. In the case of the diplomatic discussions, this practice was unfortunately not followed. . ” 3

In view of this situation the editors decided to include in this volume all available minutes or notes on the international political discussions at Yalta. Thus for a majority of the political meetings at Yalta there will be found in this volume two or more accounts, generally in the form of minutes prepared by Charles E. Bohlen , Edward Page , or H. Freeman Matthews , or rough notes in abbreviated long-hand taken by Matthews or Alger Hiss .

(2) Documents Considered at International Meetings —This category comprises proposals, memoranda, and correspondence, of [Page XVI] American, British, or Russian origin, that were actually submitted or exchanged as a part of the international negotiations at the conferences. It also includes, of course, the international documents signed at Yalta. For both Malta and Yalta, documents of this type have been included for military, as well as political, subjects.

(3) Intradelegation Documentation —This type of documentation includes minutes or notes on discussions within the United States Delegation bearing directly on the subjects under negotiation at the conferences with either the British or the Russians or both. It also includes memoranda and correspondence on such subjects within the United States Delegation or between the Delegation and other officers of the United States Government. At Malta and Yalta there were frequent meetings of top civilian advisers with the Secretary of State or the President to discuss political subjects under negotiation at the conferences, but apparently no minutes of these discussions were prepared. Such notes as could be found on these discussions have been included, together with all significant intradelegation memoranda dealing with international conference subjects.

On the military side, minutes were regularly kept of the meetings of the Joint Chiefs of Staff at Malta and Yalta. Those portions of these minutes which relate to subjects under international negotiation at the conferences are included in this volume, together with such related documents as are not adequately summarized in the minutes themselves.

Only a small proportion of the total documentation published in this volume was found in the indexed Central Files of the Department of State. Documents which came from those files are indicated by a file number, in the usual style of Foreign Relations . The great majority of documents in this volume came either from unindexed files (i. e., special collections) within the Department of State or from documentary collections outside the Department. These sources are indicated by brief headnotes above each document. The files and collections so indicated are described in the following paragraphs.

Một. inside the department of state

1. Bohlen Collection —This collection consists of the Yalta minutes and documents collected by Charles E. Bohlen , then Assistant to the Secretary of State, who served as interpreter for the President at Yalta. It contains all the minutes of the plenary meetings at Yalta which were prepared by Bohlen . It also includes one memorandum of conversation dictated by Averell Harriman and the minutes of the meetings of the Foreign Ministers at Yalta which were taken by Edward Page, Jr. , then Second Secretary of the American Embassy at Moscow, who served as interpreter for Secretary Stettinius . Also [Page XVII] in the collection are copies of the more important conference documents and one paper of British origin dating from Malta. The Bohlen Collection, while by no means complete, has been regarded by the Department and the White House as the nearest approach to an official American record of the Yalta Conference.

2. Hiss Collection —This collection consists of the notes and documents pertaining to Yalta which were collected by Alger Hiss , then Deputy Director of the Office of Special Political Affairs. The collection contains the original penciled notes taken by Hiss at a number of meetings at Yalta, together with a roughly chronological assortment of conference papers and United States Delegation working memoranda and notes prepared by Hiss and others at Yalta. The collection also contains one paper prepared at Malta, a few Yalta papers of British origin, and several papers prepared in the spring of 1945 which pertain to subjects discussed at Yalta. The original Hiss notes on the Yalta meetings have been printed in this publication as nearly facsimile as feasible. A number of memoranda prepared by Hiss at Yalta were not included in this particular collection but were found elsewhere in the UNA files of which this collection formed a part.

3. Matthews Files —The files accumulated in the office of H. Freeman Matthews , then Director of the Office of European Affairs. These voluminous files contain a number of Yalta papers not in other collections. They also contain the original penciled notes taken by Matthews at six plenary meetings and four Foreign Ministers’ meetings at Yalta. The Matthews notes on the plenary meetings had been transcribed by Matthews into smooth minutes and these have been reproduced in this volume. The rough notes on the Foreign Ministers’ meetings, which Matthews had not transcribed, are reproduced in this volume as nearly facsimile as feasible.

4. UNA Files —The files of the Bureau (Office) of United Nations Affairs (now the Bureau of International Organization Affairs). These files contain a voluminous collection of documents regarding the establishment of the United Nations and related subjects.

5. Executive Secretariat Files —These files provided the only copy that could be found in the Department of State of the Yalta Briefing Book.

6. L/T Files —The files of the Assistant Legal Adviser for Treaty Affairs.

7. EE Files —The files of the Office (Division) of Eastern European Affairs.

8. EUR Files—The files of the Bureau (Office) of European Affairs.

9. Moscow Embassy Files —Certain files of the American Embassy at Moscow for the period 1936–1950 which are now in the Department of State.

10. EAC Files —The files of the United States Delegation to the European Advisory Commission, now in the Department of State.

11. FEC Files —The files of the Far Eastern Commission, now in the Department of State.

NS. outside the department of state

1. White House Files —From these files there was obtained a copy of the booklet containing the Log of the President’s trip to Malta and Yalta.

2. J. C. S. Files —The files of the Joint Chiefs of Staff. These files provided not only Joint Chiefs of Staff material but also Combined Chiefs of Staff documentation. The approval of the British Chiefs of Staff, along with that of the United States Joint Chiefs of Staff, was obtained for the declassification of Combined Chiefs of Staff documentation.

3. Defense Files —The files of the Secretaries and Assistant Secretaries of War and Navy and other relevant files.

4. Treasury Files —The files of the Department of the Treasury. One pre-Yalta paper printed in this volume was obtained from these files.

5. Roosevelt Papers —The papers of President Roosevelt in the Franklin D. Roosevelt Library at Hyde Park, New York. The Roosevelt Papers were particularly valuable for the heads-of-government correspondence, most of which was not in the files of the Department of State.

6. Hopkins Papers —The papers of Harry L. Hopkins , located in the Franklin D. Roosevelt Library at Hyde Park, New York. A few notes written by Hopkins to the President during plenary meetings at Yalta were found. There were no other Yalta papers of a unique nature, since Hopkins was too ill at Yalta to participate fully in the conference.

In addition to the Department of State Bulletin , the two official publications listed below were found to be the most convenient sources for citations to previously published documents referred to in this volume:

  • Department of State Publication 3580 (Washington: Government Printing Office, 1949). Hereafter cited as “ Postwar Foreign Policy Preparation ”.
  • Senate Document No. 123, 81st Congress, 1st Session (Washington: Government Printing Office, 1950). Hereafter cited as “ Decade ”.

The most authoritative unofficial publications containing basic data on the conferences at Malta and Yalta are the following books, [Page XIX] which were written by conference participants or from the papers of participants:

James F. Byrnes , Speaking Frankly (New York: Harper and Bros., 1947). Hereafter referred to as “ Byrnes ”.

Winston S. Churchill , Triumph and Tragedy (Boston: Houghton Mifflin Co., 1953), volume VI of the series The Second World War . Hereafter referred to as “ Churchill ”.

John R. Deane , The Strange Alliance: The Story of Our Efforts at Wartime Cooperation with Russia (New York: The Viking Press, 1947). Hereafter referred to as “ Deane ”.

Ernest J. King and Walter Muir Whitehill , Fleet Admiral King : A Naval Record (New York: W. W. Norton and Co., 1952). Hereafter referred to as “ King ”.

William D. Leahy , I Was There: The Personal History of the Chief of Staff to Presidents Roosevelt and Truman , Based on His Notes and Diaries Made at the Time (New York: Whittlesey House, 1950). Hereafter referred to as “ Leahy ”.

Robert E. Sherwood , Roosevelt and Hopkins : An Intimate History (New York: Harper and Bros., 1948). Hereafter referred to as “Sherwood”.

Edward R. Stettinius, Jr. , Roosevelt and the Russians: The Yalta Conference (New York: Doubleday and Co., 1949). Hereafter referred to as “ Stettinius ”.

While much information is contained in these books that is not in the official record, it would be neither feasible nor appropriate to reproduce such material in this volume. Citations have been made to these books, however, for statements of fact which are specifically supplementary to, or at variance with, the official record as presented herein. A few other unofficial but authoritative books which touch on aspects of the pre-conference negotiations have also been cited at appropriate points in this volume.

Testimony given in congressional hearings by participants in the Malta and Yalta conferences has also been studied for factual additions to the record, and citations to such statements have been made at appropriate points in the volume.

In the documents presented in this volume the editors have corrected only obvious typographic errors. All permissible variations in spelling, punctuation, and capitalization have been retained as in the original text. The data appearing in the headings and subscriptions of the original documents (place, date, addressee, method of transmission, and classification) have been harmonized by the editors into a reasonably standard pattern in the headings as printed herein. Any substantive titles appearing on the original documents have been retained.

The classification of the document (top secret, secret, confidential, or restricted) is included in the printed heading if such information appears on the document itself. It should be noted, however, that in 1944 and 1945 many documents were not given any formal classification, [Page XX] although they were handled as if classified and were in some instances so marked subsequently. The editors have endeavored to reproduce in this volume the original classification of the document (if any), disregarding subsequent modifications thereof. In instances in which the classification was stamped rather than typed on the text copy, it is possible that this classification was applied subsequently and did not appear on the document as originally prepared.

Most of the minutes and notes presented in this volume contained lists of participants for each meeting reported on. In order to avoid the useless repetition of such lists and to harmonize differences in spelling, the editors have compiled a single list of the names of participants for each meeting of each conference. A complete list of persons mentioned in the volume will be found on pages xxv–xxxviii, with indications as to whether they were present at Malta, at Yalta, or at both places during the time of the conferences.

All telegraphic instructions of the Department of State are issued over the name of the Secretary or Acting Secretary, although in many cases the name of the Secretary or Acting Secretary is actually signed by an appropriate official of lower rank who subscribes his own initials. In the telegrams printed in this volume, such initials have been retained as a part of the signature, with a bracketed indication in each case of the identity of the signing officer. Similarly, in the case of those third-person communications which are customarily initialed rather than signed, the initials have been retained, together with a bracketed indication of the name of the initialing officer.

In accordance with the customary practice in the Foreign Relations series, a limited number of omissions are made in order (1) to avoid giving needless offense to other nationalities or individuals, (2) to protect defense information in accordance with Executive Order 10501, and (3) to condense the record, as, e. NS. by eliminating items that are merely repetitious, or not germane. All deletions have been indicated by marks of ellipsis (three or seven dots) at the appropriate points in the documents as printed.

A consolidated list of abbreviations, symbols, and code names will be found immediately following this introduction. A list of papers will be found beginning on page xxxix.


Nội dung

During the Yalta Conference, the Western Allies had liberated all of France and Belgium and were fighting on the western border of Germany. In the east, Soviet forces were 65 km (40 mi) from Berlin, having already pushed back the Germans from Poland, Romania, and Bulgaria. There was no longer a question regarding German defeat. The issue was the new shape of postwar Europe. [2] [3] [4]

The French leader General Charles de Gaulle was not invited to either the Yalta or Potsdam Conferences, a diplomatic slight that was the occasion for deep and lasting resentment. [5] De Gaulle attributed his exclusion from Yalta to the longstanding personal antagonism towards him by Roosevelt, but the Soviets had also objected to his inclusion as a full participant. However, the absence of French representation at Yalta also meant that extending an invitation for De Gaulle to attend the Potsdam Conference would have been highly problematic since he would have felt honor-bound to insist that all issues agreed at Yalta in his absence to be reopened. [6]

The initiative for calling a second "Big Three" conference had come from Roosevelt, who hoped for a meeting before the US presidential elections in November 1944 but pressed for a meeting early in 1945 at a neutral location in the Mediterranean. Malta, Cyprus and Athens were all suggested. Stalin, insisting that his doctors opposed any long trips, rejected those options. [7] He proposed instead for them meet at the Black Sea resort of Yalta in the Crimea. Stalin's fear of flying also was a contributing factor in the decision. [8] Nevertheless, Stalin formally deferred to Roosevelt as the "host" for the conference, and all plenary sessions were to be held in the US accommodation at the Livadia Palace, and Roosevelt was invariably seated centrally in the group photographs, all of which were taken by Roosevelt's official photographer.

Each of the three leaders had his own agenda for postwar Germany and liberated Europe. Roosevelt wanted Soviet support in the Pacific War against Japan, specifically for the planned invasion of Japan (Operation August Storm), as well as Soviet participation in the United Nations. Churchill pressed for free elections and democratic governments in Eastern and Central Europe, specifically Poland. Stalin demanded a Soviet sphere of political influence in Eastern and Central Europe as an essential aspect of the Soviets' national security strategy, and his position at the conference was felt by him to be so strong that he could dictate terms. According to US delegation member and future Secretary of State James F. Byrnes, "it was not a question of what we would let the Russians do, but what we could get the Russians to do." [9]

Poland was the first item on the Soviet agenda. Stalin stated, "For the Soviet government, the question of Poland was one of honor" and security because Poland had served as a historical corridor for forces attempting to invade Russia. [10] In addition, Stalin stated regarding history that "because the Russians had greatly sinned against Poland", "the Soviet government was trying to atone for those sins". [10] Stalin concluded that "Poland must be strong" and that "the Soviet Union is interested in the creation of a mighty, free and independent Poland". Accordingly, Stalin stipulated that Polish government-in-exile demands were not negotiable, and the Soviets would keep the territory of eastern Poland that they had annexed in 1939, with Poland to be compensated for that by extending its western borders at the expense of Germany. Contradicting his prior stated position, Stalin promised free elections in Poland despite the existence of a Soviet sponsored provisional government that had recently been installed by him in the Polish territories occupied by the Red Army.

Roosevelt wanted the Soviets to enter the Pacific War against Japan with the Allies, which he hoped would end the war sooner and reduce American casualties.

One Soviet precondition for a declaration of war against Japan was an American official recognition of the Mongolian independence from China (the Mongolian People's Republic had been a Soviet satellite state from its from 1924 to World War II). The Soviets also wanted the recognition of Soviet interests in the Manchurian railways and Port Arthur but not asking the Chinese to lease. Those conditions were agreed to without Chinese participation.

The Soviets wanted the return of Karafuto, which had been taken from Russia by Japan in the Russo-Japanese War in 1905, and the cession of Kuril Islands by Japan, both of which were approved by Truman.

In return, Stalin pledged that the Soviet Union would enter the Pacific War three months after the defeat of Germany. Later, at Potsdam, Stalin promised Truman to respect the national unity of Korea, which would be partly occupied by Soviet troops.

Furthermore, the Soviets agreed to join the United Nations because of a secret understanding of a voting formula with a veto power for permanent members of the Security Council, which ensured that each country could block unwanted decisions. [11]

The Soviet Army had occupied Poland completely and held much of Eastern Europe with a military power three times greater than Allied forces in the West. [ cần trích dẫn ] The Declaration of Liberated Europe did little to dispel the sphere of influence agreements, which had been incorporated into armistice agreements.

All three leaders ratified the agreement of the European Advisory Commission setting the boundaries of postwar occupation zones for Germany with three zones of occupation, one for each of the three principal Allies. They also agreed to give France a zone of occupation carved out of the US and UK zones, but De Gaulle had the principle of refusing to accept that the French zone would be defined by boundaries established in his absence. He thus ordered French forces to occupy Stuttgart in addition to the lands earlier agreed upon as comprising the French occupation zone. He only withdrew when threatened with the suspension of essential American economic supplies. [12] Churchill at Yalta then argued that the French also needed to be a full member of the proposed Allied Control Council for Germany. Stalin resisted that until Roosevelt backed Churchill's position, but Stalin still remained adamant that the French should not be admitted to full membership of the Allied Reparations Commission to be established in Moscow and relented only at the Potsdam Conference.

Also, the Big Three agreed that all original governments would be restored to the invaded countries, with the exceptions of Romania and Bulgaria, where the Soviets had already liquidated most of the governments, [ cần phải làm rõ ] and Poland, whose government-in-exile was also excluded by Stalin, and that all of their civilians would be repatriated.

Declaration of Liberated Europe Edit

The Declaration of Liberated Europe was created by Winston Churchill, Franklin D. Roosevelt, and Joseph Stalin during the Yalta Conference. It was a promise that allowed the people of Europe "to create democratic institutions of their own choice". The declaration pledged,l that "the earliest possible establishment through free elections governments responsive to the will of the people." That is similar to the statements of the Atlantic Charter for "the right of all people to choose the form of government under which they will live." [13]


Xem video: HỘI NGHỊ YANTA PHẦN 2: BẢN ĐỒ THẾ GIỚI ĐƯỢC VẼ LẠI (Tháng MườI MộT 2021).