Lịch sử Podcast

Người Đức tiến vào Liên Xô

Người Đức tiến vào Liên Xô


We are searching data for your request:

Forums and discussions:
Manuals and reference books:
Data from registers:
Wait the end of the search in all databases.
Upon completion, a link will appear to access the found materials.

Một tuần sau khi phát động một cuộc xâm lược lớn vào Liên Xô, các sư đoàn Đức đã có những bước tiến đáng kinh ngạc vào Leningrad, Moscow và Kiev.

Mặc dù đã ký Hiệp ước Liên Xô - Đức Quốc xã năm 1939, nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin biết rằng chiến tranh với Đức Quốc xã - kẻ thù tư tưởng tự nhiên của Liên Xô - là không thể tránh khỏi. Năm 1941, ông nhận được báo cáo rằng các lực lượng Đức đang đổ bộ dọc theo biên giới phía tây của Liên Xô. Ông ta đã ra lệnh huy động một phần quân, do không tin tưởng rằng lãnh tụ Đức Quốc xã Adolf Hitler sẽ không bao giờ mở thêm một mặt trận nào cho đến khi nước Anh bị khuất phục. Do đó, Stalin đã rất ngạc nhiên trước cuộc xâm lược diễn ra vào ngày 22 tháng 6 năm 1941. Vào ngày đó, 150 sư đoàn Đức đã tràn qua biên giới phía tây dài 1.800 dặm của Liên Xô trong một trong những chiến dịch quân sự lớn nhất và mạnh nhất trong lịch sử.

Được hỗ trợ bởi lực lượng không quân vượt trội hơn nhiều của nó, Luftwaffe, Quân Đức đã tấn công Liên Xô thành ba tập đoàn quân lớn, gây thương vong khủng khiếp cho Hồng quân và dân thường Liên Xô. Ngày 29 tháng 6, các thành phố Riga và Ventspils ở Latvia thất thủ, 200 máy bay Liên Xô bị bắn rơi, và vòng vây của ba quân đội Nga gần như hoàn tất tại Minsk của Belarus. Được sự hỗ trợ của các đồng minh Romania và Phần Lan, quân Đức đã chinh phục được lãnh thổ rộng lớn trong những tháng đầu của cuộc xâm lược, và đến giữa tháng 10, các thành phố lớn của Nga là Leningrad và Moscow đang bị bao vây.

Tuy nhiên, giống như Napoléon Bonaparte năm 1812, Hitler đã không tính đến quyết tâm lịch sử của người dân Nga trong việc chống lại quân xâm lược. Mặc dù hàng triệu binh lính và công dân Liên Xô đã thiệt mạng vào năm 1941 và đối với phần còn lại của thế giới, dường như chắc chắn rằng Liên Xô sẽ sụp đổ, Hồng quân thách thức và dân chúng Nga cay đắng đang dần bóp chết hy vọng của Hitler về một chiến thắng nhanh chóng. Stalin có dự trữ các sư đoàn Hồng quân lớn hơn nhiều so với dự đoán của tình báo Đức, và chính phủ Liên Xô đã không sụp đổ vì thiếu sự ủng hộ của dân chúng như mong đợi. Đối mặt với thực tế khắc nghiệt của sự chiếm đóng của Đức Quốc xã, Liên Xô đã chọn chế độ của Stalin là chế độ ít có hai tệ nạn hơn và sẵn sàng hy sinh bản thân trong cuộc chiến được gọi là “Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại”.

Cuộc tấn công của Đức chống lại Moscow chỉ cách Điện Kremlin 20 dặm, tinh thần phản kháng của Leningrad vẫn mạnh mẽ, và ngành công nghiệp vũ khí của Liên Xô - được vận chuyển bằng tàu hỏa đến sự an toàn của miền đông - được tiếp tục, an toàn khỏi cuộc giao tranh. Cuối cùng, cái mà người Nga gọi là "Mùa đông chung" lại dấy lên nguyên nhân của họ, làm tê liệt khả năng điều động của quân Đức và làm mỏng hàng ngũ của các sư đoàn được lệnh giữ vị trí của họ cho đến cuộc tấn công mùa hè năm sau. Mùa đông năm 1941 đến sớm và là mùa tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ, và quân đội Đức không có áo khoác mùa đông đã bị tiêu diệt bởi các cuộc phản công lớn của Liên Xô bắt đầu vào tháng 12.

Vào tháng 5 năm 1942, quân Đức, những người đã phải trả giá rất đắt, đã mở cuộc tấn công mùa hè của họ. Họ chiếm Caucasus và đẩy đến thành phố Stalingrad, nơi một trong những trận chiến vĩ đại nhất của Thế chiến II bắt đầu. Vào tháng 11 năm 1942, một cuộc phản công lớn của Liên Xô được phát động từ đống đổ nát của Stalingrad, và vào cuối tháng 1 năm 1943, Thống chế Đức Friedrich Paulus đầu hàng đội quân bị bao vây của mình. Đó là bước ngoặt của cuộc chiến, và Liên Xô sau đó đã chiếm lại toàn bộ lãnh thổ mà quân Đức chiếm được trong cuộc tấn công năm 1942 của họ.

Vào tháng 7 năm 1943, quân Đức mở cuộc tấn công lớn cuối cùng, tại Kursk; sau hai tháng chiến đấu ác liệt với hàng nghìn xe tăng, nó đã kết thúc trong thất bại. Từ đó, Hồng quân liên tục đẩy lùi quân Đức trong một loạt các cuộc tấn công của Liên Xô. Vào tháng 1 năm 1944, Leningrad đã được giải tỏa, và một cuộc tấn công khổng lồ nhằm quét sạch những kẻ xâm lược của Liên Xô bắt đầu vào tháng 5. Vào tháng 1 năm 1945, Hồng quân mở cuộc tấn công cuối cùng, tiến vào Tiệp Khắc và Áo và cuối tháng 4 là Berlin. Thủ đô của Đức bị chiếm vào ngày 2 tháng 5, và 5 ngày sau Đức đầu hàng trong Thế chiến thứ hai.

Hơn 18 triệu binh lính và thường dân Liên Xô đã thiệt mạng trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Đức đã mất hơn ba triệu người do hậu quả của cuộc xâm lược thảm khốc vào Liên Xô.

ĐỌC THÊM: Đức Quốc xã đã thực sự thua thế chiến thứ hai như thế nào?


Chiến tranh thế giới thứ hai Châu Âu: Mặt trận phía Đông

Mở mặt trận phía đông ở châu Âu bằng cách xâm lược Liên Xô vào tháng 6 năm 1941, Hitler mở rộng Chiến tranh thế giới thứ hai và bắt đầu một trận chiến tiêu tốn một lượng lớn nhân lực và tài nguyên của Đức. Sau khi đạt được thành công đáng kinh ngạc trong những tháng đầu của chiến dịch, cuộc tấn công bị đình trệ và Liên Xô bắt đầu từ từ đẩy lùi quân Đức. Ngày 2 tháng 5 năm 1945, Liên Xô chiếm được Berlin, giúp kết thúc Thế chiến thứ hai ở châu Âu.


Cuộc xâm lược điên cuồng của Hitler vào nước Nga đã thay đổi lịch sử thế giới vĩnh viễn

Điều gì sẽ xảy ra nếu Hitler không xâm lược Nga? Sự năng động của Đệ tam Đế chế và Hitler có nghĩa là nước Đức sẽ không bị động.

Đây là những gì bạn cần nhớ: Đập tan nước Nga cũng sẽ là cao trào tận thế đối với thứ mà Hitler coi là cuộc đối đầu không thể tránh khỏi với cái nôi của chủ nghĩa cộng sản. Hoặc, anh ta có thể đã hướng về Địa Trung Hải và Trung Đông

Một trong những quyết định quan trọng nhất trong lịch sử là cuộc xâm lược Liên Xô của Adolf Hitler vào ngày 22/6/1941.

Chiến dịch Barbarossa đã biến cuộc chiến của Đức Quốc xã từ một cuộc chiến một mặt trận, chống lại một nước Anh suy yếu và một Hoa Kỳ vẫn trung lập, thành một cuộc xung đột hai mặt trận. Phương diện quân phía Đông đã hấp thụ tới 3/4 quân Đức và gây ra 2/3 thương vong cho quân Đức.

Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu Hitler không xâm lược Nga? Động thái của Đệ tam Đế chế và Hitler có nghĩa là Đức sẽ không bị động. Trên thực tế, khó có thể tưởng tượng Đức Quốc xã và Liên Xô không xảy ra chiến tranh, mặc dù câu hỏi đặt ra là khi nào thì điều này sẽ xảy ra.

Một khả năng là xâm lược Anh vào năm 1941, và do đó có thể kết thúc chiến tranh châu Âu hoặc giải phóng cho Đệ tam Đế chế để chống lại một cuộc chiến tranh một mặt trận sau này ở phía Đông. Vì vậy, Chiến dịch Sealion, cuộc tấn công đổ bộ được đề xuất năm 1940 vào miền nam nước Anh, sẽ chỉ bị hoãn lại một năm. Vấn đề là Kreigsmarine - hải quân Đức - sẽ vẫn đông hơn nhiều so với Hải quân Hoàng gia, ngay cả khi có thêm chiến hạm mới Bismarck. Người Anh sẽ có thêm một năm để củng cố Lực lượng Không quân Hoàng gia và xây dựng lại các sư đoàn đã bị tàn phá trong sự sụp đổ của nước Pháp. Anh cũng sẽ nhận được Lend-Lease từ Hoa Kỳ, vào tháng 9 năm 1941 gần như là một cường quốc hiếu chiến hộ tống các đoàn xe ở Bắc Đại Tây Dương. Một vài tháng sau, Mỹ đã chính thức tham gia vào cuộc xung đột bất chấp việc Nhật Bản tiến công ở Thái Bình Dương, Mỹ chắc chắn sẽ tập trung sức mạnh ngày càng tăng của mình để giữ cho Anh không bị khuất phục và trong cuộc chiến.

Một khả năng có thể xảy ra hơn là Hitler có thể đã chọn di chuyển về phía nam thay vì phía đông. Với phần lớn Tây Âu dưới quyền kiểm soát của ông ta sau mùa hè năm 1940, và Đông Âu hoặc khuất phục hoặc liên minh với Đức, Hitler có một sự lựa chọn vào giữa năm 1941. Anh ta có thể làm theo bản năng và ý thức hệ của mình và chống lại Liên Xô, với nguồn tài nguyên phong phú và không gian rộng mở cho thực dân Đức Quốc xã. Đập tan nước Nga cũng sẽ là cao trào tận thế đối với thứ mà Hitler coi là cuộc đối đầu không thể tránh khỏi với cái nôi của chủ nghĩa cộng sản.

Hoặc, ông ta có thể đã quay về phía Địa Trung Hải và Trung Đông, như chỉ huy hải quân của ông ta, Đô đốc Erich Raeder ưa thích. Trong Thế chiến thứ hai thực sự, chiến dịch Bắc Phi của Rommel là một màn trình diễn bên lề cho sự kiện chính ở Nga. Trong kịch bản thay thế, Bắc Phi trở thành sự kiện chính.

Một khả năng có thể xảy ra là gây áp lực với Franco để từ bỏ sự trung lập của Tây Ban Nha và cho phép quân đội Đức tiến vào Tây Ban Nha và chiếm Gibraltar, do đó phong tỏa tuyến đường trực tiếp từ Anh đến Địa Trung Hải (nếu Franco ngoan cố, một khả năng khác sẽ là xâm lược Tây Ban Nha và sau đó chiếm Gibraltar Dù sao đi nữa.) Một lựa chọn khác là tăng cường Afrika Korps của Rommel, băng qua Libya và Ai Cập để chiếm kênh đào Suez (mà Rommel đã suýt làm vào tháng 7 năm 1942.) Từ đó quân Đức có thể tiến vào các mỏ dầu ở Trung Đông, hoặc nếu Đức tấn công Nga vào năm 1942, di chuyển qua Caucuses trong một chiến dịch gọng kìm sẽ siết chặt Nga từ phía tây và phía nam. Trong khi đó, thép và các nguồn tài nguyên khác sẽ được chuyển từ chế tạo xe tăng và các loại vũ khí trang bị trên bộ khác sang chế tạo số lượng lớn tàu thuyền U-boat có thể bóp nghẹt huyết mạch hàng hải của Anh.

Liệu chiến lược thay thế này của Đức có hiệu quả không? Một lựa chọn Địa Trung Hải của Đức sẽ rất khác so với việc xâm lược Liên Xô. Thay vì một đội quân trên bộ khổng lồ của phe Trục với 3 triệu người, Địa Trung Hải sẽ là nơi tranh chấp của tàu và máy bay, hỗ trợ một số lượng tương đối nhỏ lính mặt đất qua những khoảng cách rộng lớn của Trung Đông. Với việc Liên Xô vẫn giữ thái độ trung lập (và tiếp tục vận chuyển các nguồn lực cho Đức theo Hiệp ước Đức Quốc xã-Liên Xô,) Đức có thể sẽ tập trung lực lượng Không quân Đức ở Địa Trung Hải. Máy bay Đức đã tấn công Hải quân Hoàng gia trong năm 1941–42, ngay cả khi đang hỗ trợ chiến dịch ở Nga. Toàn bộ sức nặng của Không quân Đức sẽ rất tàn khốc.

Mặt khác, công tác hậu cần cho một cuộc tấn công Trung Đông sẽ rất khó khăn do khoảng cách quá xa và thiếu năng lực vận tải biển của Ý để vận chuyển nhiên liệu. Đức có một lực lượng không quân và hải quân hoạt động hiệu quả, nhưng nó chủ yếu là một cường quốc lục địa với sức mạnh của quân đội. Giả sử rằng Mỹ tham chiến vào tháng 12 năm 1941, thì có thể tâm điểm của nhà hát châu Âu vào năm 1942 sẽ là lực lượng không quân và hải quân Đức-Ý hỗ trợ một Afrika Korps được tăng cường, so với bộ binh, không quân và hải quân của Anh và Mỹ. lực lượng phòng thủ hoặc phản công ở Cận Đông.

Đến lượt nó, đặt ra một câu hỏi khác: điều gì sẽ xảy ra nếu Hitler không hủy bỏ Chiến dịch Barbarossa, mà hoãn nó lại cho đến mùa hè năm 1942? Giả sử phe Trục thành công ở Trung Đông, Liên Xô sẽ phải đối mặt với một lực lượng viễn chinh Đức-Ý đang tiến lên phía bắc qua Kavkaz (có lẽ Thổ Nhĩ Kỳ đã tham gia vào triều đại của phe Trục đang lên.) Một năm nữa cũng sẽ cho Đức nhiều thời gian hơn để cướp phá và khai thác tài nguyên của Tây Âu bị chinh phục.

Mặt khác, Hồng quân vào tháng 6 năm 1941 đã bị mất cân bằng một cách khủng khiếp, vẫn đang quay cuồng và tổ chức lại sau các cuộc thanh trừng của Stalin. Thêm một năm nữa sẽ giúp Liên Xô có thời gian để hoàn tất việc tập hợp lại Hồng quân cũng như tiếp nhận các thiết bị mới đáng gờm như xe tăng T-34 và bệ phóng tên lửa Katyusha. Trì hoãn Barbarossa cho đến năm 1942, giả sử Anh chưa đầu hàng, có nghĩa là Đức sẽ bắt đầu cuộc tấn công vào Nga trong khi vẫn cần tăng cường phòng thủ phía tây của mình trước cuộc phản công không thể tránh khỏi của Anh-Mỹ.

Những kỹ năng tác chiến và kỹ năng chiến thuật vượt trội của Đức, cũng như kinh nghiệm chiến đấu cao hơn, sẽ giúp Wehrmacht có lợi thế hơn trong những ngày mở màn của Barbarossa 1942. Tuy nhiên, những tổn thất thảm khốc mà Hồng quân phải gánh chịu vào năm 1941 có lẽ sẽ thấp hơn, dẫn đến khả năng là Barbarossa bị trì hoãn sẽ là một món quà cho Liên Xô.

Michael Peck là một nhà văn đóng góp cho Lợi ích quốc gia. Anh ấy có thể được tìm thấy trên Twitter Facebook.

Bài báo này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2016 và được tái bản do sự quan tâm của độc giả.


Các thuộc địa của Großliebental

Nhìn chung, hơn 500 thuộc địa được thành lập ở khu vực ngày nay của Odessa phía đông sông Dnjepr và khoảng 40 thuộc địa ở Nikolajew và khoảng 150 ở Bessarabia. Những người thực dân thường đặt tên cho các ngôi làng theo tên thành phố quê hương của họ. Do đó, các làng Baden, Rastadt, Kassel, München, Straßburg và những làng khác có nguồn gốc từ Nam Nga. Khi các thuộc địa đang phát triển cần nhiều đất hơn, các thuộc địa con gái & mdashwhich mang tên của thuộc địa mẹ với tiền tố 'mới' & mdashemerged. Sau đó, các thuộc địa phải được đổi tên một phần. Năm 1819, dưới thời Alexander I, các ngôi làng ở Đức được đặt tên để tưởng nhớ chiến thắng của Napoléon, chẳng hạn như Tarutino hoặc Borodino.

Các thuộc địa của Großliebental nằm gần thành phố Odessa. Großliebental (ngày nay là Welikodolinskoje) là trung tâm của khu vực đông dân cư của người Đức, bao gồm các thuộc địa Lustdorf (Tschernomorka), Kleinliebental (Malodolinskoje), Alexanderhilf (Dobroalexandrowka), Franzfeld, Neubstal (Nowogradowka), Mariental (Marjanowka) ) và Peterstal (Petrodolina). Các thuộc địa duy trì quan hệ chặt chẽ với thành phố Odessa. Vào năm 1907, một tuyến xe hơi đường phố đã nối thị trấn với Lustdorf, thị trấn nghỉ mát quyến rũ bên bờ Biển Đen, nơi thu hút nhiều người đến nghỉ ngơi và thư giãn. [. ]


Điều gì sẽ xảy ra nếu quân Đức chiếm được Moscow vào năm 1941?

O ne of the classic “ifs” của Chiến tranh Thế giới thứ hai tập trung vào việc làm thế nào — hoặc nếu — cuộc xâm lược của Đức vào Liên Xô vào tháng 6 năm 1941, với mật danh Chiến dịch Barbarossa, có thể đạt được một chiến thắng nhanh chóng. Hitler chắc chắn tin rằng nó có thể. Ông nhấn mạnh rằng tất cả những gì phải làm là “đá vào cửa” và “toàn bộ cấu trúc mục nát” của chế độ Cộng sản Stalin sẽ sụp đổ. Về nhiều mặt, Barbarossa là một thành công đáng kinh ngạc. Quân Đức đã đánh bại Liên Xô hoàn toàn bất ngờ, tiến hàng trăm dặm chỉ trong vài tuần, giết hoặc bắt vài triệu quân Liên Xô, và chiếm giữ một khu vực chứa 40% dân số Liên Xô, cũng như phần lớn than đá, quặng sắt, ngành công nghiệp nhôm và vũ khí. Nhưng Barbarossa đã thất bại trong việc thực hiện mục tiêu chính là Moscow. Có chuyện gì?

Một số nhà sử học đã chỉ ra quyết định của Đức là tiến theo ba trục: ở phía bắc về phía Leningrad, ở phía nam về phía Ukraine, và ở trung tâm là chống lại Moscow. Nhưng Wehrmacht có đủ lực lượng để hỗ trợ ba cuộc tấn công, và việc nó nhanh chóng tiêu diệt rất nhiều quân đội Liên Xô cho thấy rằng đây là một quyết định hợp lý. Những người khác đã chỉ ra quyết định của Hitler vào tháng 8 là chuyển hướng hầu hết các đơn vị thiết giáp trực thuộc Trung tâm Tập đoàn quân của Thống chế Fedor von Bock, mục tiêu là Moscow, và cử họ về phía nam để hỗ trợ nỗ lực bao vây và bắt sống quân đội Liên Xô xung quanh Kiev, thủ đô của Ukraine. Cuộc tiêu diệt quân đội Kiev vào ngày 26 tháng 9 đã thu về 665.000 người, hơn 3.000 khẩu pháo và gần 900 xe tăng. Nhưng nó đã trì hoãn việc nối lại các chiến dịch lớn chống lại Moscow cho đến đầu mùa thu. Nhiều nhà sử học cho rằng đây là một sai lầm chết người.

Tuy nhiên, như nhà sử học David M. Glantz chỉ ra, một kịch bản như vậy đã bỏ qua những gì quân đội Liên Xô xung quanh Kiev có thể đã làm nếu họ không bị mắc kẹt và đưa ra quá nhiều biến số để tạo ra một phản ứng thực tế tốt. Do đó, "viết lại tối thiểu" tốt nhất của lịch sử phải tập trung vào nỗ lực cuối cùng của Đức để chiếm giữ Moscow, một cuộc tấn công được gọi là Chiến dịch Typhoon.

Đây là cách Typhoon có thể đã diễn ra:

Khi chiến dịch bắt đầu, Cụm tập đoàn quân Trung tâm có lợi thế đáng kể so với các lực lượng Liên Xô được giao nhiệm vụ bảo vệ Moscow. Nó có 1,9 triệu người, 48.000 khẩu pháo, 1.400 máy bay và 1.000 xe tăng. Ngược lại, Liên Xô chỉ có 1,25 triệu quân (nhiều người có ít hoặc không có kinh nghiệm chiến đấu), 7.600 khẩu pháo, 600 máy bay và gần 1.000 xe tăng. Tuy nhiên, sự ngang bằng về số lượng xe tăng dường như là sai lệch, vì phần lớn xe tăng của Liên Xô là những mẫu lỗi thời.

Ban đầu, Tập đoàn quân Trung tâm chạy thô bạo hơn đối thủ của mình. Trong vòng vài ngày, nó đạt được sự bao vây ngoạn mục của 685.000 quân Liên Xô gần các thị trấn Bryansk và Vyazma, cách Moscow khoảng 100 dặm về phía tây. Những người Nga dũng cảm nhìn lên bầu trời khi mưa bắt đầu, vì đây là mùa của rasputitsa- thực chất là “thời không có đường” - khi lượng mưa lớn biến những cánh đồng và những con đường không trải nhựa thành những vũng lầy lầy lội. Nhưng năm nay thời tiết không giải cứu được họ, và vào đầu tháng 11, băng giá đã đóng cứng mặt đất khiến khả năng di chuyển của quân Đức được đảm bảo. Với những nỗ lực của Herculean từ các đơn vị cung cấp của Đức, Trung tâm Tập đoàn quân tiếp tục trực tiếp tấn công Moscow.

Được báo động triệt để, chế độ Stalin di tản chính phủ cách Kuybyshev 420 dặm về phía đông, phía bắc Biển Caspi. Nó cũng sơ tán một triệu cư dân Moscow, chuẩn bị cho điện Kremlin kích động thay vì để nó rơi vào tay quân Đức và lên kế hoạch di dời lăng mộ của Lenin đến một nơi an toàn. Riêng Stalin ở lại Matxcơva cho đến giữa tháng 11, khi những đội quân Đức đầu tiên tiếp cận thành phố có hiệu lực. Và để tuân theo mệnh lệnh của Hitler, Fedor von Bock sử dụng Trung tâm Tập đoàn quân để bao vây Moscow, thay vì chiến đấu từng đường phố trong thành phố. Tuy nhiên, quân đội Liên Xô rút lui thay vì trở thành con mồi cho một cuộc bao vây thảm khốc khác, và vào ngày 30 tháng 11 - chính xác là hai tháng sau khi Chiến dịch Bão tố bắt đầu - nó lên đến đỉnh điểm là việc chiếm được Mátxcơva.

Kịch bản trên là đúng về mặt lịch sử ở nhiều khía cạnh. Ba cuộc khởi hành chính là sự vắng mặt của rasputitsa, điều này đã thực sự sa lầy vào cuộc tấn công của quân Đức trong hai tuần quan trọng, hướng đi kéo dài về phía Moscow hơn là sự chuyển hướng của các đơn vị đến các mục tiêu nhỏ hơn sau chiến thắng tại Bryansk và Vyazma - một cuộc tấn công lớn và tất nhiên, việc đánh chiếm Matxcơva.

Nhưng liệu sự sụp đổ của Moscow có đồng nghĩa với sự thất bại của Liên Xô? Gần như chắc chắn là không. Năm 1941, Liên Xô phải chịu đựng việc chiếm được nhiều thành phố lớn, chiếm một tỷ lệ lớn các nguyên liệu thô quan trọng và tổn thất bốn triệu quân. Vậy mà nó vẫn tiếp tục chiến đấu. Nó có một cơ sở công nghiệp rộng lớn và đang phát triển ở phía đông Dãy núi Ural, nằm ngoài tầm với của quân Đức. Và ở Joseph Stalin, đó là một trong những nhà lãnh đạo tàn nhẫn nhất trong lịch sử thế giới - một người hoàn toàn khó có thể bỏ cuộc vì mất bất kỳ thành phố nào, cho dù có uy tín đến đâu.

Một kịch bản liên quan đến sự sụp đổ của Mátxcơva cũng bỏ qua sự xuất hiện của 18 sư đoàn quân từ Siberia - những người mới, được huấn luyện tốt và được trang bị cho các trận chiến mùa đông. Họ đã đề phòng chống lại một cuộc xâm lược có thể xảy ra của Nhật Bản, nhưng một điệp viên Liên Xô đã thông báo một cách đáng tin cậy cho Stalin rằng Nhật Bản sẽ quay đầu về hướng Nam, về phía Đông Ấn thuộc Hà Lan và Philippines, do đó họ giải phóng họ đến mặt trận Moscow. Trong lịch sử, sự xuất hiện của những đội quân này đã khiến quân Đức bất ngờ, và một cuộc phản công bất ngờ của Liên Xô vào đầu tháng 12 năm 1941 đã tạo ra một cuộc khủng hoảng quân sự lớn. Bị bất ngờ và bối rối, các chỉ huy chiến trường của Hitler đã thúc giục một cuộc rút lui tạm thời để củng cố hệ thống phòng thủ của quân Đức. Nhưng Hitler từ chối, thay vào đó ra lệnh cho quân Đức tiếp tục giữ vững lập trường. Trong lịch sử, họ đã quản lý để làm như vậy. Tuy nhiên, với việc các lực lượng Đức mở rộng đến tận Matxcova và chốt chặt phòng thủ của thành phố, điều này có lẽ sẽ không thể thực hiện được. Trớ trêu thay, đối với người Đức, dường như chiến thắng trong việc đánh chiếm Mátxcơva có thể đã sớm mang lại thảm họa.


Đức Quốc xã có thể nghiền nát nước Nga như thế nào trong Thế chiến II

Trong phần trước, chúng ta đã thảo luận về cách Đức có thể buộc Anh chấp nhận một trong những đề nghị hòa bình của mình và giữ cho Hoa Kỳ không tham chiến. Trong bài viết này, chúng ta sẽ xem xét làm thế nào Đức có thể không chỉ tránh được thất bại toàn diện dưới tay Hồng quân, mà thậm chí còn có thể đạt được chiến thắng trước đối thủ Liên Xô lớn hơn và mạnh hơn nhiều, lớn hơn bốn mươi lần so với Đức ở mức độ lớn nhất của nó.

Đừng xâm lược Nam Tư và Hy Lạp vào tháng 4 năm 1941.

Trong lịch sử thực tế, Nam Tư đã đồng ý gia nhập phe Trục vào cuối tháng 4 năm 1941 nhưng vài ngày sau đó, một cuộc đảo chính đã đưa ban lãnh đạo mới lên nắm quyền có thiện cảm hơn với phe Đồng minh. Trong khi các nhà lãnh đạo mới của Nam Tư hứa với người Đức sẽ duy trì liên kết với phe Trục như đã thỏa thuận trước đó trong khi vẫn trung lập trong cuộc chiến, Hitler coi cuộc đảo chính là một sự xúc phạm cá nhân và thề sẽ khiến Nam Tư phải trả giá, chuyển hướng các sư đoàn Panzer của Đức khỏi Ba Lan và Romania để xâm lược Nam Tư. và Hy Lạp. Điều này cuối cùng đã làm trì hoãn cuộc xâm lược Liên Xô theo kế hoạch của Đức trong 5 tuần rưỡi quan trọng từ ngày 15 tháng 5 đến ngày 22 tháng 6 năm 1941. Nhìn lại, không cần thiết quân sự để Hitler xâm lược Nam Tư vào tháng 4 năm 1941. Ông ta có thể chỉ gửi một vài Các sư đoàn bộ binh Đức đến tăng viện cho Albania để ngăn nó bị quân Hy Lạp tràn ngập nhưng ông sợ quân tiếp viện tiềm tàng của Anh ở Hy Lạp, có thể đe dọa sườn phía nam châu Âu của ông. Tất nhiên, nếu Anh và Pháp vẫn còn chiến tranh với Đức, thì không chắc Ý đã xâm lược Hy Lạp trong năm 1940–1941 và mạo hiểm với một Tuyên bố Chiến tranh của Anh nên trong trường hợp đó, Chiến dịch Barbarossa có thể bắt đầu vào ngày 15 tháng 5 năm 1941. như kế hoạch ban đầu, làm tăng đáng kể khả năng Đức chiếm được Moscow vào năm 1941. Kết hợp với quyết định sau đó của Hitler chuyển hướng hai Đội quân thiết giáp trung tâm của ông ta để đánh chiếm các đội quân Liên Xô ở sườn phía bắc và phía nam của họ, sự chậm trễ này kéo dài 5 tuần rưỡi so với thời điểm bắt đầu. thời gian diễn ra Chiến dịch Barbarossa đã chứng tỏ khả năng chiến thắng của quân Đức trong chiến tranh. Ngay cả khi Hitler không theo đuổi chiến lược quân sự ưu tiên Matxcơva như các tướng lĩnh của hắn đã khuyên một cách khôn ngoan, thì việc xâm lược Nga trước đó 5 tuần rưỡi cũng có thể đủ để cho phép quân Đức chiếm được Matxcơva vào tháng 11 năm 1941, mặc dù với chi phí đáng kể về người và vật liệu.

Đừng cản bước tiến tới Moscow của hai người Panzergruppen (các binh đoàn xe tăng) của Trung tâm Tập đoàn quân trong hai tháng quan trọng.

Trong khi nhiều nhà sử học coi việc Đức xâm lược Liên Xô vào ngày 22 tháng 6 năm 1941 là sai lầm lớn nhất của Hitler, bằng chứng từ các tài liệu lưu trữ của Liên Xô được phát hiện sau sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 cho thấy nó đã thành công trong việc ngăn chặn một cuộc xâm lược của Liên Xô vào Ba Lan và Romania, vốn đã được lên kế hoạch. Vào tháng 7 năm 1941. Hóa ra, Hitler đã đúng khi đánh giá rằng cuộc xâm lược Liên Xô của ông ta là cần thiết như một cuộc tấn công phủ đầu chống lại những người Liên Xô đang có kế hoạch tấn công Đức. Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược châu Âu theo kế hoạch của mình, từ tháng 8 năm 1939 đến tháng 6 năm 1941, Stalin đã giám sát một đợt xây dựng quân sự khổng lồ của Hồng quân, nâng tổng số nhân lực tại ngũ của lực lượng này từ 1,5 triệu lên 5,5 triệu. Sự mở rộng này đã làm tăng hơn gấp đôi tổng số sư đoàn của họ từ 120 lên 303 sư đoàn, bao gồm cả việc tăng số lượng sư đoàn xe tăng Liên Xô từ 0 lên 61 sư đoàn xe tăng so với tổng số chỉ có 20 sư đoàn Panzer có trong Quân đội Đức vào thời điểm đó của Chiến dịch Barbarossa. Đến tháng 6 năm 1941, Hồng quân tự hào có số lượng xe tăng gấp 7 lần và số máy bay chiến đấu nhiều hơn gấp 4 lần so với lực lượng Đức xâm lược. Mục tiêu đầu tiên của cuộc xâm lược châu Âu theo kế hoạch này của Liên Xô là chiếm Romania để cắt đứt quyền tiếp cận của nước này với các mỏ dầu của Romania nhằm bất động các lực lượng vũ trang Đức và buộc họ phải đầu hàng. Sau khi đánh chiếm Berlin và buộc Đức đầu hàng, Hồng quân sẽ chiếm toàn bộ lục địa châu Âu đến eo biển Anh, tác giả người Anh, Anthony Beevor, nói rằng Stalin cũng nghiêm túc cân nhắc việc làm vào cuối chiến tranh. Nhìn dưới góc độ này, Chiến dịch Barbarossa hoàn toàn không phải là một sai lầm mà là một chiến dịch đã thành công trong việc tiêu diệt hơn 20.000 xe tăng Liên Xô và hàng nghìn máy bay chiến đấu đang tập trung ở biên giới để xâm chiếm lãnh thổ Đức và trì hoãn sự chinh phục của Hồng quân Đức và châu Âu bằng cách gần bốn năm. Kẻ đào tẩu Liên Xô, Viktor Suvorov trong cuốn sách đột phá của mình Thủ phạm chính đi xa hơn nữa khi cho rằng cuộc xâm lược của Hitler vào Liên Xô là cứu Tây Âu khỏi bị Hồng quân chinh phục.

Thay vào đó, sai lầm lớn nhất của Hitler liên quan đến cuộc chiến chống Liên Xô của ông ta là quyết định của ông ta vào đầu tháng 8 năm 1941 chuyển hướng hai Tập đoàn quân thiết giáp của Cụm tập đoàn quân Trung tâm để giúp Cụm tập đoàn quân phía Bắc và Cụm quân phía Nam tràn ngập và bao vây quân đội Liên Xô ở hai bên sườn của Cuộc tiến công của nó dẫn đến việc tiến quân tới Moscow bị trì hoãn hai tháng khi thủ đô Liên Xô mở cửa cho việc tiếp quản. Nếu Hitler theo đuổi chiến lược Matxcơva trước, thì ông ta có thể chiếm được Matxcova chậm nhất là vào cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9. Ông ta thậm chí có thể đã đẩy Hồng quân trở lại phòng tuyến Archangel Volga Astrakhan vào tháng 10 năm 1941 hoặc vào mùa hè năm 1942, buộc Stalin phải chấp nhận một hiệp định đình chiến công nhận hầu hết các thành quả khó giành được của Đức. Trong cuốn sách xuất sắc của anh ấy Hitler’s Panzers East, R.H.S. Stolfi ước tính rằng điều đó có thể đã lấy đi tới 45% cơ sở công nghiệp của Liên Xô và tới 42% dân số của cô ấy, khiến cho Liên Xô vô cùng khó khăn trong việc khôi phục và lấy lại lãnh thổ đã mất. Trong khi Liên Xô có thể đã di dời nhiều ngành công nghiệp của họ về phía đông Ural như trong lịch sử thực tế, sản xuất công nghiệp của họ sẽ bị tê liệt hơn nhiều so với lịch sử thực tế nếu không có sự hỗ trợ công nghiệp quân sự của Mỹ-Anh. Nếu quân Đức chiếm được Mátxcơva trước mùa đông năm 1941 và tổ chức nó trong suốt mùa đông Liên Xô cuối năm 1941, đầu năm 1942, Stalin có thể đã yêu cầu một hiệp định đình chiến với những điều kiện có lợi hơn nhiều cho Đức so với những điều ông đưa ra trong lịch sử thực tế. Những điều khoản đó có thể bao gồm việc chuyển giao phần lớn, nếu không phải là tất cả, khu vực Caucasus giàu dầu mỏ cho Đức để đổi lấy việc trả lại thành phố thủ đô quan trọng của họ cho Liên Xô kiểm soát. Với việc Liên Xô suy yếu nghiêm trọng, Nhật Bản có thể sẽ tham gia cuộc chiến để giành phần chiến lợi phẩm của họ và chiếm đóng Đông Siberia như các tướng lĩnh Quân đội Nhật Bản đã muốn làm từ trước đến nay. Do đó, nếu Hitler cho phép các tướng lĩnh của mình chiếm được Moscow trước, quân Đức có thể đã thắng trong cuộc chiến.

Sản xuất ba triệu áo khoác dày mùa đông và quần áo mùa đông khác cho quân đội Đức trước khi xâm lược Liên Xô.

Do những tiên đoán lạc quan của Hitler về sự sụp đổ nhanh chóng của Liên Xô và kết thúc chiến tranh ở phía Đông vào tháng 12 năm 1941, Đức đã không sản xuất được quần áo mùa đông cho quân xâm lược của mình. Theo một số tài khoản, có tới 90% tổng số thương vong của quân Đức từ tháng 11 năm 1941 đến tháng 3 năm 1942, tổng cộng vài trăm nghìn người, là do tê cóng. Chỉ đến cuối tháng 12 năm 1941, giới lãnh đạo Đức Quốc xã mới thừa nhận sai lầm của mình và khẩn trương thu thập càng nhiều đồ mùa đông từ dân thường Đức để gửi cho quân Đức càng tốt.

Cho phép độc lập dân tộc và quyền tự trị cho tất cả các lãnh thổ Liên Xô được giải phóng bởi quân Đức.

Có lẽ chìa khóa lớn nhất để giành chiến thắng trong cuộc chiến của họ chống lại Liên Xô (tất nhiên là không phải chống lại Hoa Kỳ và Anh) là để người Đức không chỉ được coi là những người giải phóng khỏi sự kiểm soát của Cộng sản Liên Xô, như ban đầu khi họ xâm lược. Liên Xô, nhưng thực sự là những người giải phóng khỏi sự áp bức của Cộng sản Liên Xô. Người Đức lẽ ra phải sử dụng chủ nghĩa dân tộc để tập hợp người dân Belarus, Ukraine và các nước vùng Baltic chiến đấu không phải vì người Đức hay chống lại Stalin mà là để giải phóng đất nước của họ khỏi sự giam cầm của Liên Xô. Lẽ ra, họ phải cho phép tự trị cho tất cả các quốc gia được giải phóng này giống như Đế quốc Đức đã cấp cho họ sau khi đánh bại Đế quốc Nga vào tháng 3 năm 1918 như một phần của Hiệp ước Brest-Litovsk. Trong lịch sử thực tế, quân Đức đã bắt được 5,6 triệu quân Liên Xô và bắt sống Trung tướng Hồng quân Vlasov đề nghị lãnh đạo Quân đội Giải phóng Nga để giúp chống lại Liên Xô trong khi các nhà lãnh đạo khác đề nghị lãnh đạo Quân đội Giải phóng Ukraine và Cossack nhưng Hitler không cho phép sử dụng chúng. trong chiến đấu ở Mặt trận phía Đông, tin rằng họ không đáng tin cậy. Nếu người Đức đối xử công bằng với công dân của các vùng lãnh thổ Liên Xô được giải phóng và Tù nhân Chiến tranh (POW’s), thì hàng triệu binh sĩ Liên Xô bị bắt bổ sung có thể đã tình nguyện chiến đấu bên phía Đức. Hóa ra, cuối cùng Stalin đã sử dụng chủ nghĩa dân tộc của Ukraine và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô khác để đánh bại quân Đức thay vì ngược lại, điều này thể hiện một cơ hội lớn bị bỏ lỡ cho Đức, giúp đảm bảo họ thua trong cuộc chiến.


Devil’s Bargain: Đức và Nga trước Thế chiến II

Vào năm 1920, bất kỳ nhà quan sát thông minh nào cũng đều nhận thấy rằng Đức và Nga sẽ gây ra mối đe dọa quân sự cho thế giới trong nhiều thập kỷ tới là rất khó có thể xảy ra, nếu không muốn nói là không thể. Cả hai quốc gia đều rơi vào tình trạng tuyệt vọng sau Thế chiến thứ nhất, Đức đã phải hứng chịu một thất bại thảm khốc, và chính phủ dân chủ mới của họ phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng kinh tế, một cuộc cách mạng cộng sản và mất 10% lãnh thổ. Mọi thứ thậm chí còn tồi tệ hơn ở Nga. Hàng triệu người Nga đã chết trong chiến tranh. Cuộc nội chiến giữa người da đỏ và người da trắng - và sự can thiệp của các cường quốc phương Tây - đã tàn phá đất nước nhiều hơn.

Tuy nhiên, chỉ hơn một thập kỷ sau, Đức và Nga đã trang bị lực lượng không quân và cơ giới hóa tiên tiến. Đáng nói hơn, khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, các cường quốc bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất đã vượt qua những kẻ chiến thắng về khả năng tiến hành chiến tranh hiện đại, cơ giới hóa. Sự chuyển đổi này nằm trong một kỳ tích giữ bí mật quân sự trên quy mô lớn: thời kỳ hợp tác trong đó Liên Xô giúp Đức lách luật quốc tế bằng cách cho phép nước này xây dựng lại các lực lượng vũ trang của mình ở Nga, và trong đó Đức đã giúp Nga tăng cường tiến hóa trong công nghệ và Đào tạo. Kết quả cuối cùng là hai đối thủ trong quá khứ và tương lai sẽ mài dũa hiệu quả những mũi kiếm của nhau — những mũi kiếm mà họ sẽ sớm chống lại nhau.

Tình trạng tuyệt vọng có thể dẫn đến suy nghĩ giàu trí tưởng tượng. Trong hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất, các lực lượng vũ trang của cả Đức và Nga thực sự đang ở trong tình trạng tuyệt vọng. Hiệp ước Versailles năm 1919 hạn chế Đức trong quân đội 100.000 người, không có máy bay hoặc xe tăng. Lực lượng hải quân của nước này đã giảm xuống còn một đội tàu nhỏ, và các hạn chế nghiêm ngặt được đặt ra đối với ngành công nghiệp Đức nhằm ngăn chặn việc sản xuất và tích trữ vũ khí hiện đại. Để thấy rằng Đức đã tuân thủ những hạn chế này, hơn 1.000 sĩ quan và quan chức của Ủy ban Kiểm soát Quân sự Liên Đồng minh (IAMCC) đã thành lập trụ sở chính tại Berlin vào mùa hè năm 1919. Các đội IAMCC đã bay khắp đất nước để đóng cửa. các nhà máy sản xuất vũ khí và tìm kiếm các kho vũ khí ẩn. Mục đích là rời khỏi nước Đức vĩnh viễn dưới sự thương xót của các cường quốc Đồng minh. Để thực thi ý chí của mình, Đồng minh sẽ chiếm một phần lớn miền Tây nước Đức trong hơn một thập kỷ sau Thế chiến thứ nhất.

Chế độ Nga dưới thời Vladimir Lenin là một quốc gia biệt lập, bị bao vây bởi các nước láng giềng thù địch và cắt đứt giao thương với các cường quốc. Mặc dù Hồng quân đã chiếm ưu thế trước người Nga da trắng, người Ba Lan và các cường quốc phương Tây đã can thiệp vào cuộc nội chiến (Anh, Pháp và Hoa Kỳ), nhưng nó đã có kết quả tồi tệ vào năm 1920. Quân đội có ít vũ khí hiện đại, với pháo lạc hậu và chỉ có một số máy bay của năm 1917 và 1918. Nga sản xuất ít phương tiện cơ giới và Hồng quân chỉ có một số lượng nhỏ xe tăng hạng nhẹ Renault kiểu 1918 thu được từ lực lượng Nga trắng trong cuộc nội chiến. Its officers had performed well as small-unit commanders, but the newly created army lacked officers with higher command and staff experience.

The two nations were still major powers, however. Germany had the world’s second largest industrial economy after the United States and remained on the cutting edge of technology development. And even a weakened Russia still had a large population and vast unexploited natural resources. Both countries saw the Western Allies as their primary threats, and both believed that the only means of national survival was in building superior military forces.

The earliest stages of the German-Russian postwar relationship remain murky. Immediately after the First World War, the German government had little thought for long-term foreign policy as it contended with one internal crisis after another. But a few individuals were able to look beyond the short term. One of them was the visionary Col. Gen. Hans von Seeckt, newly appointed commander of the German army. Seeckt was interested in developing military cooperation with the new Soviet regime and saw Russia as a place where Germany could secretly produce weapons far from the prying eyes of the Allied disarmament inspectors. In early 1920 Seeckt began sending out feelers to the Russian regime through Turkish contacts he had made during the war. These initial forays were conducted privately, without the knowledge or consent of the German government.

Seeckt was not alone in seeing Russia as a place where Germany might pursue military production. Officials in the German Foreign Office also considered developing economic and military contacts with the Soviet Union, and by 1920 members of the Foreign Office began secret discussions with the Soviet War Ministry about selling German weapons and technology to the Soviet regime.

It might seem strange for Germany to establish relations with a communist revolutionary state just after brutally suppressing a Soviet-supported rebellion by German communists—which it did in 1919—but both sides saw a certain logic to it. Germany had the expertise and modern technology that Russia urgently needed Lenin saw these diplomatic and military efforts as a means of breaking the Western Allies’ economic and military stranglehold on Russia. And Russia, for its part, could offer the Germans plenty of space to build secret factories to produce the modern weapons the Western Allies had denied them, without fear of discovery by the IAMCC.

With both nations desperately needing to reestablish themselves as military powers, their governments entered into secret negotiations. General von Seeckt carefully laid the groundwork for the alliance, creating in late 1920 an office under his direct control within the Reichswehr staff: “Special Group R,” the NSRussland—Russia. Seeckt later dispatched Col. Hermann von der Lieth-Thomsen, a highly regarded general staff officer who had been chief of the air service in the First World War, to serve as the German army’s secret representative in Moscow.

In April 1922 Germany and the Soviet Union signed a treaty of trade and friendship at Rapallo, Italy. The published version of the treaty established friendly relations between the two nations that included trade and investment. But the treaty also had a secret annex, signed two months later, that established close military cooperation between the two powers. Under the treaty’s secret provisions, Germany would establish joint ventures with the Soviet government to build weapons factories in Russia. These included aircraft manufacturing plants, ammunition factories, and a poison gas plant. Russia would also set up tank and gas warfare schools, and provide the Germans with bases where they could train airmen. German officers of the elite general staff were assigned to teach in the Soviet army and air force staff academies. Soviet officers were allowed to take the German army’s general staff course—probably the finest advanced officer course in the world.

The Rapallo agreement was a diplomatic and military masterstroke: the public part of the agreement alone took the Allied powers by complete surprise. The secret part of the agreement—the allying of the Weimar Republic’s new army, the Reichswehr, with the Soviet Union—was something they could not even have imagined.

To keep it that way, every effort was made to deceive the Allies as the extensive military activities got underway. German airplanes were flown across borders into Russia at night, and shipments of military goods were sent by roundabout routes and boxed as “farm machinery.” The military training bases were set up in remote areas, and German military personnel assigned to training in Russia were officially discharged from the army and sent under assumed names. Upon completing their training they were reinstated in the army as if they had never left.

Some accounts of the secret German military testing in Russia finally did leak out in the late 1920s. By that time, none of the Allied powers wanted to confront Germany over what appeared to be minor breaches of the Versailles Treaty. As long as Germany was ostensibly disarmed, the Western powers did not want to provoke a crisis.

The earliest efforts to rearm were inauspicious ones, however. From 1921 to 1923, a series of industrial cooperative programs involving weapons production—among them an ammunition factory and a small poison gas factory—were set up on Soviet soil. These proved to be the least successful of the joint ventures. The Russians hoped for much, but in the early 1920s the new Soviet state was too poor to order weapons, ammunition, or aircraft in sufficient quantities to cover the cost of the German investment. After a short period of joint production, the German armaments firms closed their factories.

One industrial enterprise did have a lasting impact. The German army sponsored a deal with Junkers Aircraft Company to build a secret factory in Russia in the village of Fili, just outside Moscow, in 1922. At the time, Junkers had the most advanced all-metal aircraft designs in the world. Dozens of Germany’s top aircraft designers and technicians traveled secretly to Russia to help the Russians set up aircraft and engine factories to build the latest Junkers designs.

To work on the Junkers project, the Soviets assembled an aircraft design team under the brilliant young engineer Andrei Tupolev. The Germans liked Tupolev and his team, and admired their desire to learn. But the factory languished because the Soviet regime was unable to buy more than a handful of aircraft. After manufacturing only 150 airplanes in two years, and losing a great deal of money in the process, Junkers pulled out and turned the plant over to the Russians.

Yet, by providing the Russian designers and engineers with access to the latest western technology and ideas, this brief cooperation provided a major boost to the fledgling Soviet aircraft industry. Tupolev and his team took over the Fili factory and began manufacturing the TB-1 and TB-3 bombers—both of which showed a strong similarity to the Junkers designs of the era. By the early 1930s the Soviet aircraft industry was growing at an astounding rate, and by the middle of the decade, the Soviet Union possessed one of the largest and most modern air forces in the world.

The air force training programs established in Russia came far closer to achieving what German visionaries had in mind. The Germans had created a large and technically advanced air force during World War I, and they were determined to maintain a secret force that could be expanded as soon as the hated Versailles Treaty was renounced. To do so, the German army needed a place to train its airmen and develop new technologies and tactics. The Russians offered the Germans a base at the spa town of Lipetsk, 300 miles southwest of Moscow. It proved ideal, and became the focus of a secret Luftwaffe rearmament and training program in the late 1920s.

The Lipetsk base, which opened in 1925, was home to 60 to 70 permanent German personnel, including instructors, technicians, and test pilots. Between 1925 and 1933, several dozen Reichswehr personnel a year were officially “retired” from the army and sent to Russia as civilians. At Lipetsk they either took a six-month course in advanced fighter aircraft, or were enrolled in the aerial observer’s course. After completing the rigorous training program, as thorough as any offered in the world at the time, the airmen would return to Germany and be officially reinstated in the army. During the eight years it was in operation, more than 450 Reichswehr airmen were trained in Russia.

To ensure the training was as modern as possible, the Reichswehr managed to quietly obtain one of the hottest fighter planes of the era: the Fokker D XIII. During the crisis of 1923, when France and Belgium occupied the Ruhr valley following Germany’s failure to make required reparations payments, the German army made secret war preparations that included ordering 50 of the new fighters from its old friend, Dutch aircraft manufacturer Anthony Fokker. The D XIII, powered by a British 450 hp Napier engine, was one of the fastest airplanes of its time and set several speed records in the early 1920s. When the crisis passed, the Reichswehr’s air staff shipped the D XIIIs to Lipetsk. There the planes served as trainers for the advanced fighter course and as fighter-bombers used to train German pilots in dropping bombs and attacking ground targets.

During the next few years the base also acquired several Heinkel HD 21 and Albatros L 68 trainers, and some Junkers transports that were used for the observer and navigator courses. With plenty of aircraft (the school had 66 planes in 1929), the Germans were able to mount relatively large air exercises. The German air wing also carried out air support for Red Army maneuvers, and the Germans and Russians gained experience in the complicated art of air-ground operations. By 1929 the German instructor staff had developed a cadre of fighter experts and a fighter tactics manual that were the equal of any major air force’s.

By the late 1920s, the Lipetsk school had expanded to include a flight test center. Although the Versailles Treaty had forbidden the Germans an air force, they were still allowed civil aviation, and in the 1920s companies such as Junkers, Dornier, and Heinkel were producing some up-to-date and even innovative designs. Some of these were not the transport or sport planes they purported to be, but were designed as bombers or reconnaissance planes. The Junkers K-47 dive-bomber, a forerunner of World War II’s famous Ju 87 Stuka the Do 11 bomber the He 45 light bomber and the Ar 65 fighter were all tested at Lipetsk between 1929 and 1931. In 1931, the peak year for training and testing at Lipetsk, 300 German trainers, instructors, and testing personnel were stationed there.

A similar success story was unfolding with armor development. One of the most painful mistakes the German General Staff made in World War I was its belated appreciation of the role of armored vehicles on the battlefield. In contrast to the Allies, who had fielded tanks by the thousands in 1918, Germany started late and had manufactured only a handful of tanks by the end of the war. Although denied tanks by the Versailles Treaty, the Germans made the development of modern armored forces a high priority in the 1920s.

In 1925, the Reichswehr’s weapons office contracted the engineering firms of Daimler, Rheinmetall, and Krupp to build prototype heavy tanks, each armed with a large-caliber gun, several machine guns, and thick armor. The tank prototypes were to incorporate the most advanced engines and transmissions, be gas-proof, and be able to cross rivers. In 1927 the order was followed up by contracts to produce light tanks, also with all the latest engineering features. In keeping with the highly secret nature of the program, the Germans used code names for the armor in all military correspondence: “large tractors” for the heavy tanks and “light tractors” for the light tanks.

By 1929 the German companies had produced six prototype heavy tanks and four light tanks and shipped them to the Russian industrial city of Kazan to be tested. These tanks, in addition to prototype armored cars produced by the Daimler and Büssing companies, helped equip the German tank officer school, which opened the same year. Along with military personnel, dozens of German engineers were secretly brought to Russia to oversee the armored experiments. Ferdinand Porsche—who would go on to design the most notorious heavy tank of World War II (and possibly of all time), the Tiger Mk IV—had his first experience in tank design as head of Daimler’s “large tractor” project and observed the German army’s first armored maneuvers in Kazan.

The Soviets were just beginning to organize mechanized forces in 1929, so they were especially eager to support the German tank school and testing station. With tank production beginning in the Soviet Union, the Red Army’s top priority was to develop a force and doctrine for armored warfare Red Army leaders saw the Germans, admired as masters of operational-level warfare, as the best means to get the program going. That year, the German General Staff sent three officers to the Red Army to help advise in the creation of the Red Army’s first tank units.

To ensure the Germans had the support they needed for their armor school and testing center, the Red Army gave the Germans 30 brand new tanks—one-third of the Red Army’s tank production for 1929. Along with 10 German tanks, the Germans could now practice battalion-sized and larger operations. Although the armored warfare course was only for German officers, Soviet technicians were allowed to examine and test-drive the German prototype equipment, and more than 60 carefully selected Red Army officers were allowed to participate in the exercises and war games. As the Soviet tank force expanded, the Red Army formed its new tank units near Kazan so they could conduct large-scale maneuvers with the Germans in 1930 and 1931.

Between 1929 and 1933, 30 German officers went through the months-long armored warfare course at Kazan another 20 served as instructors. Although small, the course was very thorough and certainly the equal of any offered by the other major powers. Theo Kretschmer, an officer at Kazan and later a major general of panzer troops, noted that the course “had turned the participating officers into fully trained armored soldiers.”

Its alumni would be largely responsible for the Wehrmacht’s armor might in World War II. Cols. Ludwig von Radelmeier and Josef Harpe, who commanded at Kazan, became the first commandants of the panzer school established in late 1933 in Zossen-Wünsdorf, near Berlin. Col. Ernst Volkheim, who wrote the army’s armor doctrine in the 1930s, was a Kazan school graduate. Some of Germany’s most able panzer commanders, including Gens. Wilhelm von Thoma, Walter Nehring, and Georg-Hans Reinhardt, first learned about tanks at Kazan. It was at Kazan in 1930 that Heinz Guderian, the legendary general behind the development of Germany’s blitzkrieg tactics, saw his first larger-scale armored maneuvers.

For the Soviets, the greatest benefit of the alliance was in German officer training. In the 1920s, the German army had the well-deserved reputation of having the best officer training in the world. Conversely, a German officer visiting the Soviet army in the mid-1920s had summed up the state of the Russian forces as: “Basic Soldier training—Good. Equipment: Lacking. Officer Competence: Low.”

War minister Leon Trotsky understood the urgent need to establish a truly professional officer corps and was enthusiastic about cooperation with the Germans to achieve this. Between 1926 and 1933 the Red Army sent many of its most promising officers to courses in Germany. The Allies had placed no restrictions on foreign officers training in Germany, and the Germans and Russians exploited this opportunity to the fullest. The Red Army used the German army courses as a means of polishing the men who had been selected for high command. Each year from 1926 to 1933, 25 to 45 Russian officers visited Germany, some to take short courses or to observe German maneuvers and war games. An elite few—17 in all—were sent to the German army’s general staff course.

To help establish a general staff course for the new Soviet air force, the Germans sent a small team to Russia headed by Capt. Martin Fiebig, who would, in 1942, command a Luftwaffe air corps in Russia. Fiebig was a veteran of the Imperial Air Service in World War I and a graduate of the general staff course. From 1926 to 1928 he and his fellow Germans were the lead instructors for the men who led the Soviet air force. In a long report to his superior in Berlin, Fiebig described that air force in its infancy, calling the Russians “intelligent and eager to learn, but possessing little in the way of a formal education.” Despite the drawbacks of an officer corps that had been hastily recruited and trained in the midst of a civil war, Fiebig noted that the Russians were making progress—but had a long way to go.

The same could be said of the Red Army in the 1920s. German officers routinely observed the Red Army’s war games and maneuvers and provided comprehensive criticism. They found the Russian operations characterized by poor coordination of infantry, artillery, and air support. And, because Soviet tactics did not take into account the technological advances ushered in since 1918, Red Army planning and operational doctrine was also deficient.

The Russians were eager to learn from their erstwhile enemies, and took the criticism seriously. The German doctrine of the 1920s, which emphasized rapid maneuver and combined arms in the offense, appealed greatly to the Russians, and the Soviet officers worked to adapt the German approach to war to their own conditions. During the next few years the Germans noted a steady improvement in Soviet tactics and doctrine. Ultimately, the German army had a huge influence on the development of the Soviet armed forces in the 1920s and 1930s. By 1935 the German military attaché in Russia noted that the use of German army textbooks and tactical manuals was pervasive throughout the Russian army.

While they remained likely enemies, the Germans came to have a high respect for many of the Russian commanders on a personal level. In 1930, a secret assessment by the German General Staff characterized Marshal Klimenti Voroshilov, the Soviet war commissar, as “an outstanding officer with a strong and positive character, well educated, clever, modern and capable.” The up-and-coming Gen. Mikhail Tuchachevsky, soon to be Red Army chief of staff, was seen as “fresh and youthful in his views, very personable.” The Germans noted Tuchachevsky’s first-rate mind while observing war games with the Germans “he put forward many very thoughtful critiques of our operations and tactics.”

However, the Germans were uneasy about many aspects of the alliance. Part of its price was allowing the Soviets to examine, and likely copy, Germany’s latest armor and aircraft technology. And though the German and Russian armies had developed a healthy professional respect for each other, beneath the veneer of civility the officers of both nations understood that a capitalist and a communist nation could not easily coexist. At home, the Reichswehr readily shot Marxist rebels in Russia, other Germans were training Marxist officers to a high professional standard.

In 1930 the Inter-Allied Military Control Commission formally issued its final report and declared that Germany had been disarmed according to the terms of the Versailles Treaty. Without Allied inspectors on German soil, the German military no longer had to worry as much about having its illegal weapons programs exposed. It became just a matter of time until the Germans ended their cooperation with the Soviets.

In 1931, Gen. Kurt von Hammerstein-Equord, the Reichswehr’s commander, explained his distaste for the Russian alliance to a group of German officers: “We will work with Moscow as long as the West is not prepared to accept Germany on an equal status. The relationship with Moscow is a pact with the Devil— but we have no choice.”

However, changing political conditions and the departure of Allied inspectors gave the Germans a choice. In 1932 the German military leaders decided to shut down the Russian operations the following year. Weapons testing and training could be carried out on German soil at far lower cost. The Soviets, who wanted the cooperation to continue and who offered the Germans various incentives, were markedly disappointed at the end of the German presence in Russia. During top-level staff discussions between the German and Soviet general staffs, the Russians made several proposals to continue military cooperation the Germans rejected all of them.

Ultimately, it was Germany that profited the most from the 13- year cooperation with the Soviet Union. Hitler could never have rearmed the nation so quickly without the testing programs in Russia. In its secret bases, the German army and secret air force developed and tested prototypes of new weapons that were ready for production when he came to power in 1933 and began largescale rearmament. The Russian venture left the German army and air force doctrinally ahead of the other major powers.

Likewise, the courses at Lipetsk and Kazan provided Hitler with a small but very capable inner circle from which to build the Luftwaffe and a panzer force: a group of officers who were well trained in the latest doctrines and tactics, had practiced them extensively in large-scale maneuvers and realistic exercises, and were able to quickly train a large army to a high standard.

The Lipetsk and Kazan schools were “schools for generals” for the Wehrmacht. Of 40 officers in the 1928 Lipetsk course, 12 became Luftwaffe generals, while Kazan provided it with a small but superbly trained cadre of panzer experts. It was largely thanks to Lipetsk and Kazan that Germany went from having no official air arm and armored force in 1933 to—just six years later—a highly modern Luftwaffe and panzer force capable of bringing down Poland in a mere three weeks.

The Soviets might have gained far more advantage from their relationship with Germany had it not been for Stalin’s murderous purge of the Red Army leadership between 1936 and 1940. The German advisors and teachers and the joint maneuvers at Kazan had been invaluable in getting the Red Army’s first mechanized units organized. The German general staff training and specialist courses for Red Army officers had provided the Soviets with a well-trained nucleus of leaders. The Russians had proven to be adept learners, and by the early 1930s the Soviets were taking a lead role in the doctrine and technology of mechanized maneuver warfare.

But Stalin killed off this invaluable cadre of trained leaders. The top ranks of the Soviet military, most of whom had worked closely with the Germans, were specifically targeted for liquidation. The brilliant Marshal Tuchachevsky and eight other senior officers who were all connected with the training and cooperation with Germany were sent before one of Stalin’s notorious show trials in 1937. They were charged with numerous crimes, including being “agents of Nazi Germany”—as evidenced by their cooperation with the Germans in the 1920s. That the cooperation had been carried out under Stalin’s orders and with his approval was no defense, and Tuchachevsky and his colleagues were all quickly executed. They were followed by the commanders of the Soviet air force, Gens. Yak I. Alksnis and Nikolai Baranov, who were also executed in 1937. That same year, aircraft designer Andrei Tupolev was arrested and imprisoned for his work with the Germans 15 years earlier.

Officers who had been trained in Germany were arrested and liquidated. The NKVD, Stalin’s dreaded secret police, even formed a special squad “to find and root out the cells of fascist sympathizers [fascist meaning German] in the Red Army.” Since the German army had long been a model for the Russians, it was an easy task. Hundreds of officers were arrested and executed simply for possessing German military manuals and textbooks.

This destruction nearly doomed Stalin’s regime. From the start of the purge until the German invasion in 1941, the Soviet army and air force were in complete disarray, their leadership weakened and demoralized. Indeed, while the Russians were well armed at the outbreak of the war and greatly outnumbered the Germans in troops, tanks, artillery, and airplanes—including much equipment that was superior to the Wehrmacht’s, such as the T-34 tank—the Soviet forces lacked competent leadership.

Without a core of competent leaders, especially officers such as Tuchachevsky who had trained and worked with the Germans, the Red Army almost fell to pieces when the Germans invaded. In one disaster after another, whole armies were surrounded and destroyed during the relentless German advance of 1941. Had Stalin not taken such care to eliminate his German-trained officers in the great purge, one can easily imagine that a well-led Red Army might have stopped the Germans and sent the Wehrmacht reeling back in the early stages of the eastern campaign.

Originally published in the March 2009 issue of World War II. Để đăng ký, bấm vào đây.


How Hitler’s Invasion of Russia Forever Changed World History

Đây là những gì bạn cần nhớ: Superior German tactical and operational skills, as well as greater combat experience, would have given the Wehrmacht the edge in the opening days of Barbarossa 1942. Yet the catastrophic losses the Red Army suffered in 1941 would probably have been lower, leading to the possibility that Barbarossa delayed would have been a gift to the Soviets.

One of the most momentous decisions in history was Adolf Hitler's invasion of the Soviet Union on June 22, 1941.

Operation Barbarossa transformed Nazi Germany's war from a one-front struggle, against a weakened Britain and a still-neutral United States, into a two-front conflict. The Eastern Front absorbed as much as three-quarters of the German army and inflicted two-thirds of German casualties.

So what would have happened if Hitler had not invaded Russia? The dynamics of the Third Reich and Hitler meant that Germany would not remain passive. In fact, it is hard to imagine Nazi Germany and the Soviet Union not at war, though the question is when this would have happened.

One possibility was invading Britain in 1941, and thus either ending the European war or freeing the up the Third Reich to fight a later one-front war in the East. Thus Operation Sealion, the proposed 1940 amphibious assault on southern England, would merely have been postponed a year. The problem is that the Kreigsmarine—the German navy—would still have been badly outnumbered by the Royal Navy, even with the addition of the new battleship Bismarck. The British would have enjoyed an additional year to reinforce the Royal Air Force and to rebuild the divisions battered during the Fall of France. Britain would also have been receiving Lend-Lease from the United States, which by September 1941 was almost a belligerent power that escorted convoys in the North Atlantic. A few months later, America did formally enter the conflict despite the Japanese advance in the Pacific, the United States would certainly have concentrated its growing strength on keeping Britain unconquered and in the war.

A more likely possibility is that Hitler could have chosen to move south instead of east. With most of Western Europe under his control after the summer of 1940, and Eastern Europe either subdued or allied with Germany, Hitler had a choice by mid-1941. He could either follow his instincts and ideology and move against the Soviet Union, with its rich resources and open spaces for Nazi colonists. Smashing Russia would also be the apocalyptic climax for what Hitler saw as an inevitable showdown with the cradle of communism.

Or, he could have turned towards the Mediterranean and the Middle East, as his naval chief Admiral Erich Raeder preferred. In the real World War Two, Rommel's North African campaign was a sideshow to the main event in Russia. In the alternate scenario, North Africa becomes the main event.

One possibility would be to pressure Franco to drop Spanish neutrality and allow German troops to enter Spain and capture Gibraltar, thus sealing off the direct route from Britain to the Mediterranean (if Franco was stubborn, another possibility would be to invade Spain and then take Gibraltar anyway.) Another option would be to reinforce Rommel's Afrika Korps, drive across Libya and Egypt to capture the Suez Canal (which Rommel almost did in July 1942.) From there the Germans could advance on Middle Eastern oil fields, or should Germany attack Russia in 1942, move through the Caucuses in a pincer operation that would squeeze Russia from the west and south. Meanwhile, steel and other resources would have been switched from building tanks and other land armaments, to building massive numbers of U-boats that would have strangled Britain's maritime lifeline.

Would this alternative German strategy have worked? A German Mediterranean option would have been very different than invading the Soviet Union. Instead of a huge Axis land army of 3 million men, the Mediterranean would have been a contest of ships and aircraft, supporting relatively small numbers of ground troops through the vast distances of the Middle East. With the Soviet Union remaining neutral (and continuing to ship resources to Germany under the Nazi–Soviet Pact,) Germany would have been able to concentrate the Luftwaffe in the Mediterranean. German aircraft mauled the Royal Navy in 1941–42, even while supporting the campaign in Russia. The full weight of the Luftwaffe would have been devastating.

On the other hand, the logistics of a Middle Eastern offensive would have been daunting, due to the great distances and lack of Italian shipping capacity to transport fuel. Germany had an efficient air force and navy, but it was primarily a continental power whose strength rested on its army. Assuming that America entered the war in December 1941, than it is possible that the focal point of the European theater in 1942 would have been German–Italian air and naval forces supporting a reinforced Afrika Korps, versus British and American land, air and naval forces defending or counterattacking in the Near East.

Which in turn raises another question: what if Hitler didn't cancel Operation Barbarossa, but rather postponed it until the summer of 1942? Assuming the Axis were successful in the Middle East, the Soviets would have faced a German–Italian expeditionary force advancing north through the Caucasus (perhaps Turkey would have joined the rising Axis tide.) Another year would also have given Germany more time to loot and exploit the resources of conquered Western Europe.

On the other hand, the Red Army in June of 1941 was caught terribly off-balance, still reeling and reorganizing from Stalin's purges. The extra year would have given the Soviets time to finish regrouping the Red Army as well as absorbing formidable new equipment such as the T-34 tank and Katyusha rocket launcher. Delaying Barbarossa until 1942, assuming Britain hadn't surrendered, would have meant that Germany would begin its attack on Russia while still needing to bolster its western defenses against the inevitable Anglo-American counterattack.

Superior German tactical and operational skills, as well as greater combat experience, would have given the Wehrmacht the edge in the opening days of Barbarossa 1942. Yet the catastrophic losses the Red Army suffered in 1941 would probably have been lower, leading to the possibility that Barbarossa delayed would have been a gift to the Soviets.

Michael Peck is a contributing writer for the National Interest. Anh ấy có thể được tìm thấy trên Twitter Facebook.

This article first appeared in 2016 and is reprinted due to reader interest.


The Germans’ summer offensive in southern Russia, 1942

The German plan to launch another great summer offensive crystallized in the early months of 1942. Hitler’s decision was influenced by his economists, who mistakenly told him that Germany could not continue the war unless it obtained petroleum supplies from the Caucasus. Hitler was the more responsive to such arguments because they coincided with his belief that another German offensive would so drain the Soviet Union’s manpower that the U.S.S.R. would be unable to continue the war. His thinking was shared by his generals, who had been awed by the prodigality with which the Soviets squandered their troops in the fighting of 1941 and the spring of 1942. By this time at least 4,000,000 Soviet troops had been killed, wounded, or captured, while German casualties totaled only 1,150,000.

In the early summer of 1942 the German southern line ran from Orël southward east of Kursk, through Belgorod, and east of Kharkov down to the loop of the Soviet salient opposite Izyum, beyond which it veered southeastward to Taganrog, on the northern coast of the Sea of Azov. Before the Germans were ready for their principal offensive, the Red Army in May started a drive against Kharkov but this premature effort actually served the Germans’ purposes, since it not only preempted the Soviet reserves but also provoked an immediate counterstroke against its southern flank, where the Germans broke into the salient and reached the Donets River near Izyum. The Germans captured 240,000 Soviet prisoners in the encirclement that followed. In May also the Germans drove the Soviet defenders of the Kerch Peninsula out of Crimea and on June 3 the Germans began an assault against Sevastopol, which, however, held out for a month.

The Germans’ crossing of the Donets near Izyum on June 10, 1942, was the prelude to their summer offensive, which was launched at last on June 28: Field Marshal Maximilian von Weichs’s Army Group B, from the Kursk–Belgorod sector of the front, struck toward the middle Don River opposite Voronezh, whence General Friedrich Paulus’ 6th Army was to wheel southeastward against Stalingrad ( Volgograd) and List’s Army Group A, from the front south of Kharkov, with Kleist’s 1st Panzer Army, struck toward the lower Don to take Rostov and to thrust thence northeastward against Stalingrad as well as southward into the vast oil fields of Caucasia. Army Group B swept rapidly across a 100-mile stretch of plain to the Don and captured Voronezh on July 6. The 1st Panzer Army drove 250 miles from its starting line and captured Rostov on July 23. Once his forces had reached Rostov, Hitler decided to split his troops so that they could both invade the rest of the Caucasus and take the important industrial city of Stalingrad on the Volga River, 220 miles northeast of Rostov. This decision was to have fatal consequences for the Germans, since they lacked the resources to successfully take and hold both of these objectives.

Maikop (Maykup), the great oil centre 200 miles south of Rostov, fell to Kleist’s right-hand column on August 9, and Pyatigorsk, 150 miles east of Maikop, fell to his centre on the same day, while the projected thrust against Stalingrad, in the opposite direction from Rostov, was being developed. Shortage of fuel, however, slowed the pace of Kleist’s subsequent southeastward progress through the Caucasian mountains and, after forcing a passage over the Terek River near Mozdok early in September, he was halted definitively just south of that river. From the end of October 1942 the Caucasian front was stabilized but the titanic struggle for Stalingrad, draining manpower that might have won victory for the Germans in Caucasia, was to rage on, fatefully, for three more months (see below Stalingrad and the German retreat, summer 1942–February 1943). Already, however, it was evident that Hitler’s new offensive had fallen short of its objectives, and the scapegoat this time was Halder, who was superseded by Kurt Zeitzler as chief of the army general staff.


In 1943, in Kursk, Hitler ordered a large-scale offensive. He did this when the Russians clearly knew that Hitler was going to launch an attack. The last great offensive of the German armies was epic with the Russians presenting a fierce resistance, since they knew how to prepare thoroughly. In fact, the Battle of Kursk was the longest tank battle of all military history and ended in the defeat of Germany.

Adolf Hitler’s last attempt to win the Second World War. He tried to repeat the success of 1940 by attacking the Allies using the exact same strategy. The German forces were significantly smaller than in 1940, they did not have enough fuel and were to face an enemy far superior to the 1940 French army.

It would certainly have been more sensible to attack the Russians and try to slow down their advance, as the Battle of the Bulge was doomed from the start.


Xem video: Không Ngờ Đây Là Những Điều KINH HOÀNG Xảy Ra Trong Chiến Dịch BERLIN (Tháng Sáu 2022).


Bình luận:

  1. Maciver

    I am sorry, that I interrupt you, but you could not paint little bit more in detail.

  2. Jomei

    Trong này không có gì là một ý kiến ​​hay. Tôi đồng ý.

  3. Ralston

    I can recommend that you visit the site, with a huge number of articles on the topic that interests you.

  4. Douzil

    Tôi nghĩ rằng bạn không đúng. Tôi chắc chắn. Chúng tôi sẽ thảo luận. Viết trong PM, chúng tôi sẽ giao tiếp.

  5. Chayson

    Chắc chắn. Tôi tham gia nói tất cả ở trên. Hãy thảo luận về câu hỏi này. Ở đây hoặc trong PM.

  6. Skippere

    I rarely leave comments, but really interesting blog, good luck!

  7. Ormund

    Tin nhắn chưa từng có, tôi thực sự thích :)

  8. Togrel

    In my opinion, they are wrong. Tôi có thể chứng minh điều đó. Viết cho tôi trong PM, nói.



Viết một tin nhắn