Lịch sử Podcast

Lê Đức Thọ

Lê Đức Thọ

Lê Đức Thọ sinh ra tại tỉnh Nam Hà, Việt Nam vào ngày 14 tháng 10 năm 1911. Khi còn là một thanh niên, ông đã tham gia hoạt động chính trị cấp tiến và năm 1930 giúp thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông vận động chống lại sự cai trị của Pháp ở Việt Nam và hai lần bị bắt giam vì các hoạt động chính trị (1930-36 và 1939-44).

Năm 1945, Lê Đức Thọ trở lại Hà Nội, cùng với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp thành lập Việt Nam Cách mạng Đồng chí Hội. Cho đến năm 1954, ông là lãnh đạo Việt Nam tại Miền Nam Việt Nam. Là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Công nhân Việt Nam, ông chịu trách nhiệm tổ chức cuộc nổi dậy chống chính quyền miền Nam Việt Nam.

Các cuộc đàm phán hòa bình giữa các đại diện của Hoa Kỳ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam và MTDTGPMNVN bắt đầu tại Paris vào tháng Giêng năm 1969. Lê Đức Thọ làm cố vấn đặc biệt cho phái đoàn Bắc Việt. Cuối cùng ông ấy trở thành nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam trong các cuộc đàm phán này.

Vào tháng 10 năm 1972, các nhà đàm phán đã đi đến thống nhất một công thức chấm dứt chiến tranh. Kế hoạch là quân đội Mỹ sẽ rút khỏi Việt Nam để đổi lấy việc ngừng bắn và trao trả 566 tù binh Mỹ bị giam giữ tại Hà Nội. Người ta cũng đồng ý rằng các chính phủ ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ vẫn nắm quyền cho đến khi các cuộc bầu cử mới có thể được thu xếp để thống nhất cả nước.

Vấn đề chính của công thức này là trong khi quân đội Hoa Kỳ sẽ rời khỏi đất nước, quân đội Bắc Việt Nam có thể ở lại vị trí của họ ở phía nam. Trong nỗ lực gây áp lực buộc Bắc Việt phải rút quân. Tổng thống Richard Nixon đã ra lệnh thực hiện một loạt cuộc không kích mới vào Hà Nội và Hải Phòng. Đó là vụ đánh bom dữ dội nhất trong lịch sử thế giới. Trong mười một ngày, 100.000 quả bom đã được thả xuống hai thành phố. Sức công phá tương đương với năm lần của quả bom nguyên tử được sử dụng ở Hiroshima. Chiến dịch ném bom này đã bị lên án khắp thế giới. Các tiêu đề trên báo bao gồm: "Diệt chủng", "Tàn bạo thời kỳ đồ đá" và "Tàn bạo và vô tri".

Bắc Việt từ chối thay đổi các điều khoản của hiệp định và vì vậy vào tháng 1 năm 1973, Nixon đồng ý ký vào kế hoạch hòa bình đã được đề xuất vào tháng 10. Tuy nhiên, vụ ném bom đã được nhiều công chúng Mỹ yêu thích vì họ có ấn tượng rằng miền Bắc Việt Nam đã "bị ném bom phải phục tùng".

Nhờ vai trò của họ trong các cuộc đàm phán hòa bình này, Lê Đức Thọ và Henry Kissinger đã cùng được trao giải Nobel Hòa bình. Tuy nhiên, Lê Đức Thọ từ chối nhận giải với lý do đất nước chưa hòa bình.

Các binh sĩ chiến đấu cuối cùng của Hoa Kỳ rời đi vào tháng 3 năm 1973. Đó là một nền hòa bình không dễ dàng và đến năm 1974, các cuộc giao tranh nghiêm trọng đã nổ ra giữa Mặt trận Giải phóng Quốc gia và AVRN. Mặc dù Mỹ tiếp tục cung cấp thiết bị quân sự cho chính phủ miền Nam Việt Nam, nhưng quân đội của họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc sử dụng nó một cách hiệu quả.

Lê Đức Thọ và Võ Nguyên Giáp tiếp tục chỉ đạo các hoạt động quân sự chống lại Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của miền Nam Việt Nam. Mùa xuân năm 1975 chứng kiến ​​một loạt chiến thắng của MTDTGPMNVN. Sau khi các khu vực quan trọng như Đà Nẵng và Huế bị mất vào tháng 3, sự hoảng loạn tràn qua AVRN. Các sĩ quan cấp cao, lo sợ điều gì sẽ xảy ra sau khi thành lập chính phủ NLF, đã bỏ rơi người của họ và đi ẩn náu.

Nguyễn Văn Thiệu tuyệt vọng tuyên bố rằng ông có một lá thư có chữ ký của Richard Nixon hứa sẽ giúp đỡ về quân sự nếu dường như MTDTGPMNVN đang chiến thắng ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, Nixon không còn đủ tư cách để thực hiện lời hứa của mình vì ông đã bị buộc phải từ chức tại Watergate. Tổng thống mới, Gerald Ford, một người ủng hộ mạnh mẽ sự can dự của Hoa Kỳ vào Việt Nam, đã cố gắng nâng cao sự ủng hộ đối với chính phủ miền Nam Việt Nam nhưng Thượng viện kiên quyết rằng chiến tranh đã kết thúc.

Ngày 23 tháng 4 năm 1975, Tổng thống Gerald Ford nói với người dân Mỹ: "Ngày nay người Mỹ có thể lấy lại cảm giác tự hào đã có trước Việt Nam. Nhưng không thể đạt được điều đó bằng cách tái chiến một cuộc chiến đã kết thúc." Hai ngày sau. Tổng thống Thiệu, cáo buộc Hoa Kỳ phản bội, từ chức và rời khỏi đất nước. Ông nhanh chóng bị các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam khác và các cố vấn Mỹ còn lại theo dõi.

MTDTGPMNVN đến Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau khi tuyên bố rằng Việt Nam bây giờ là một đất nước thống nhất, Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập vào tháng 7 năm 1976. Các chính phủ cộng sản cũng được thành lập ở Lào và Campuchia.

Lê Đức Thọ vẫn là Ủy viên Bộ Chính trị cầm quyền cho đến khi nghỉ hưu năm 1986. Lê Đức Thọ mất tại Hà Nội ngày 13 tháng 10 năm 1990.


Lê Đức Thọ

Lê Đức Thọ (& # 160listen 14 tháng 10 năm 1911 & # 160– 13 tháng 10 năm 1990), sinh Phan Đình Khải quê ở Hà Nam, là nhà cách mạng, tướng lĩnh, nhà ngoại giao, nhà chính trị Việt Nam. & # 911 & # 93 Ông đã được trao giải Nobel Hòa bình cùng với Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger vào năm 1973, nhưng ông đã từ chối nó.

Năm 1930, Thọ giúp thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Chính quyền thực dân Pháp đã bắt giam ông từ năm 1930 đến năm 1936 và một lần nữa từ năm 1939 đến năm 1944. Sau khi được trả tự do vào năm 1945, ông đã giúp lãnh đạo Việt Minh, phong trào đấu tranh giành độc lập của Việt Nam, chống lại người Pháp, cho đến khi Hiệp định Genève được ký kết năm 1954. Năm 1948, ông vào Nam Bộ làm Phó Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Xứ ủy Nam Kỳ. Sau đó ông tham gia Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam năm 1955, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam. Thọ giám sát cuộc nổi dậy của Cộng sản bắt đầu vào năm 1956 chống lại chính phủ miền Nam Việt Nam. Năm 1963, Thọ ủng hộ việc thanh trừng Đảng xung quanh Nghị quyết 9. & # 912 & # 93

Từ năm 1978 đến năm 1982 Thọ được Hà Nội bổ nhiệm làm cố vấn chính cho Mặt trận Cứu quốc Thống nhất Kampuchia (FUNSK) và sau đó là Cộng hòa Nhân dân Kampuchea mới thành lập. Nhiệm vụ của Lê Đức Thọ là đảm bảo rằng chủ nghĩa dân tộc Khmer sẽ không lấn át lợi ích của Việt Nam ở Campuchia sau khi Khmer Đỏ bị lật đổ. & # 913 & # 93

Ông là Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng từ năm 1982 đến năm 1986 và sau đó trở thành Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


Tiểu sử nhanh

Sinh năm 1911 tại một ngôi làng thuộc tỉnh miền Bắc Việt Nam, nhiều năm sau ông lấy tên là Lê Đức Thọ để che giấu thân phận thật của mình. Ông tên khai sinh là Phan Đình Khải. Sinh thời, Việt Nam là thuộc địa của Pháp được gọi là Đông Dương thuộc Pháp.

Khi đến tuổi thiếu niên, ông bắt đầu tổ chức các cuộc biểu tình chống lại sự cai trị của Pháp và tích cực cổ vũ cho nền độc lập của Việt Nam.


Năm 1930, ông đã giúp thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương cùng với các nhà cách mạng trẻ tuổi khác. Trong đó bao gồm cả nhà lãnh đạo tương lai của miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh. Năm 1930, ông bị Pháp bắt vì hoạt động chính trị. Ông ngồi tù từ năm 1930 đến năm 1936 và sau đó từ năm 1939 đến năm 1944.

Sau khi được thả lần thứ hai, ông trở về Việt Nam và giúp lãnh đạo Việt Minh, tổ chức độc lập của Việt Nam. Ông cũng đã phục hưng đảng cộng sản.

Trong Thế chiến thứ hai, Pháp buộc phải từ bỏ một số quyền kiểm soát đối với Việt Nam. Và khi chiến tranh kết thúc, Việt Minh đã tổ chức một cuộc cách mạng để giành lại quyền kiểm soát đất nước. Hồ Chí Minh chính thức tuyên bố độc lập của Việt Nam.

Nhưng Pháp không sẵn sàng từ bỏ Việt Nam, vì vậy một cuộc chiến bắt đầu, được gọi là Chiến tranh Đông Dương. Thọ trở thành một lãnh đạo của Đảng Cộng sản và năm 1948 ông phụ trách cuộc kháng chiến với chính phủ Pháp.

Chín năm sau, Việt Minh cuối cùng đã đánh bại quân Pháp vào năm 1954. Hiệp định Genève được hai bên ký kết đã chia Việt Nam thành hai phần. Khu vực phía Bắc do Hồ Chí Minh quản lý, có tên gọi chính thức là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Phân khu miền Nam, do chính phủ được Hoa Kỳ hỗ trợ dưới thời Ngô Đình Diệm, được gọi là Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Hiệp định hòa bình cung cấp các cuộc bầu cử tự do trên toàn quốc vào năm 1956. Nhưng những cuộc bầu cử này cũng bắt đầu Chiến tranh Việt Nam, hay như một số người gọi chúng là Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai.

Vào thời điểm đó, Trung Quốc là một quốc gia cộng sản, và miền Bắc Việt Nam cũng vậy. Mỹ lo ngại rằng việc thống nhất hai miền của Việt Nam sẽ giúp truyền bá chủ nghĩa cộng sản sang phần còn lại của châu Á. Vì vậy, họ quyết định ủng hộ miền nam của Việt Nam.

Tiếp theo là cuộc Kháng chiến chống Mỹ.

Tranh cãi Chiến tranh Nobel

Chiến tranh Việt Nam bắt đầu từ năm 1955 và kéo dài cho đến khi Sài Gòn thất thủ năm 1975. Trong giai đoạn đó, Mỹ và miền Bắc Việt Nam liên tục đàm phán để đạt được một hiệp định hòa bình. Lê Đức Thọ là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất trong thời kỳ đó.

Năm 1968, Mỹ và miền Bắc Việt Nam đồng ý mở cuộc đàm phán hòa bình tại Paris, Pháp. Thời gian đầu, Xuân Thủy làm Trưởng đoàn đàm phán cho phía Việt Nam. Nhưng Thọ xuất hiện vài tuần sau đó với tư cách cố vấn đặc biệt, nhưng nhanh chóng trở nên rõ ràng là ông ta nắm giữ quyền lực thực sự.

Đối với người Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng Henry Kissinger dẫn đầu cuộc đàm phán. Ông xem Thọ là một đối thủ cứng rắn và nghiêm túc trong các cuộc đàm phán.

Tho và Kissinger tuyên bố gặp nhau bí mật vào năm 1969, hy vọng có thể thương lượng để giải quyết. Nhưng các cuộc đàm phán vẫn tiếp tục kéo dài hơn hai năm. Với các cuộc biểu tình phản chiến trên khắp Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên Xô giảm sự ủng hộ của họ đối với Bắc Việt Nam, các bên sẵn sàng đạt được một thỏa hiệp hơn.

Họ đã đạt được một giải thưởng vào năm 1973. Hòa bình mà họ sắp xếp vào năm 1973 đã đưa Kissinger và Tho trở thành những người được yêu thích chính cho Giải Nobel Hòa bình. Nhưng như nhiều người mong đợi, sự yên bình không kéo dài.

Đó là lý do Thọ từ chối nhận giải. Thoả thuận mà Tho và Kissinger đưa ra không dẫn đến hoà bình ở Việt Nam. Một số nhà phê bình gọi giải thưởng năm 1973 là Giải Nobel Chiến tranh. Thọ nói: “Một khi hiệp định Paris về Việt Nam được tôn trọng, im lặng và một nền hòa bình thực sự được thiết lập ở miền Nam Việt Nam, tôi sẽ có thể xem xét nhận giải thưởng này”. Nhưng điều đó đã không xảy ra.

Cuộc chiến ở Việt Nam tiếp tục kéo dài hơn một năm sau khi giải Nobel được công bố. Nhiều người cho rằng Thọ và Kissinger phải chịu trách nhiệm tạo ra chiến tranh chứ không phải là ngăn chặn nó.

Kết thúc chiến tranh Việt Nam

Tháng 1 năm 1974, Thọ được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ khác. Tháng 12 cùng năm, Thọ và các tướng lĩnh mở cuộc tấn công vào Tây Nguyên Nam Bộ. Tháng 4 năm sau, Tướng Dũng và Thọ lên kế hoạch đánh chiếm Sài Gòn. Thọ thông qua kế hoạch, cho rằng đó là bản án tử hình dành cho bọn phản động chế độ Sài Gòn.

Chỉ vài ngày sau, quân Bắc Việt đánh chiếm Sài Gòn và Thọ đắc thắng tiến vào thành phố. Ông bắt đầu ra lệnh đảm bảo các công trình cấp nước và điện lưới của Sài Gòn vẫn hoạt động bình thường.

Thọ tổ chức duyệt binh ngày 1/5/1975 mừng chiến thắng. Thành phố sớm được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh.


Hiệp định Hòa bình Paris và Giải Nobel Hòa bình năm 1973

Vào ngày 23 tháng 1 năm 1973, Hiệp định hòa bình Paris cuối cùng đã có kết quả dẫn đến việc cả hai bên ngừng bắn. Đối với sự kiện Accords, Xu & acircn Thu? là đại biểu được chọn làm Trưởng đoàn đàm phán chính thức và đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tổ chức tại Paris, Pháp. Đồng thời, Le DucTho xong nói chuyện với Henry Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ 3 năm trước Hiệp ước, vào năm 1970.

Mặc dù Hiệp ước đã được ký kết, nhưng vẫn có những trận chiến đang diễn ra ở nhiều vùng khác nhau. Quân đội Hoa Kỳ đã chính thức rút vào ngày 29 tháng 3 năm 1973, nhưng vẫn còn các vụ ném bom xảy ra ở miền Bắc Việt Nam.

Việc ngừng bắn không hoàn toàn có hiệu lực dẫn đến một cuộc gặp khác của Tho và Kissinger vào tháng 5 cùng năm, và một tháng sau đó vào tháng 6. Tại cuộc họp, họ đã thảo luận về việc thực hiện đầy đủ lệnh ngừng bắn dẫn đến việc ký kết một cam kết cộng đồng của cả Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam vào ngày 13 tháng 6 năm 1973.

Vì nỗ lực của cả hai, Le DucTho và Kissinger cả hai đều trở thành người nhận giải Nobel Hòa bình năm 1973 vì đã cố gắng giữ hòa bình. Tuy nhiên, Thọ từ chối giải thưởng khi cho rằng chiến tranh vẫn đang tiếp diễn trên quê hương ông và hòa bình vẫn chưa được lập lại hoàn toàn ở Việt Nam, đặc biệt là ở miền Nam. Chiến tranh cuối cùng kết thúc vào năm 1975 khi Sài Gòn thất thủ, và miền Bắc chiếm được miền Nam Việt Nam.


Việt Nam: Đàm phán Kissinger-Lê Đức Thọ, tháng 8 năm 1969-tháng 12 năm 1973

Việt Nam: Các cuộc đàm phán Kissinger-Lê Đức Thọ, tháng 8 năm 1969-tháng 12 năm 1973, một tài liệu lịch sử gần 1.800 trang về các cuộc đàm phán, do John M. Carland biên soạn và hiệu đính, chứa các bản ghi chép từ có thể tìm kiếm của mọi cuộc gặp gỡ mà Kissinger đã có với Bắc Việt Nam — bao gồm trong số 68 cuộc họp riêng biệt trong 27 vòng đàm phán riêng biệt. Các cuộc đàm phán dẫn đến Hiệp định Hòa bình Paris tháng 1 năm 1973 vẫn còn gây tranh cãi. Nhiều bản ghi chép có kèm theo chú thích dài dằng dặc tham khảo và trích dẫn, đôi khi là trùng lặp, những bản ghi nhớ tóm tắt của Kissinger gửi Nixon về cuộc gặp cụ thể với Lê Đức Thọ, cũng như từ các tài liệu khác của Mỹ, và cả từ tin nhắn của đối phương - Lê Đức Thọ đến và từ Bộ Chính trị Hà Nội, và nhiều hồi ký và hồi ký từ phía Bắc Việt Nam.

Ngày & giờ

Vị trí

Nhà tài trợ sự kiện

Tổng quat

Việt Nam: Đàm phán Kissinger-Lê Đức Thọ, tháng 8 năm 1969-tháng 12 năm 1973, một tài liệu lịch sử gần 1.800 trang về các cuộc đàm phán, do John M. Carland biên soạn và biên tập, chứa các bản ghi chép từ có thể tìm kiếm được về mọi cuộc gặp mà Kissinger đã có với Bắc Việt - bao gồm 68 cuộc họp riêng biệt trong 27 vòng đàm phán riêng biệt. Các cuộc đàm phán dẫn đến Hiệp định Hòa bình Paris tháng 1 năm 1973 vẫn còn gây tranh cãi. Nhiều bản ghi chép có kèm theo chú thích dài dằng dặc tham khảo và trích dẫn, đôi khi là trùng lặp, những bản ghi nhớ tóm tắt của Kissinger gửi Nixon về cuộc gặp cụ thể với Lê Đức Thọ, cũng như từ các tài liệu khác của Mỹ, và cả từ tin nhắn của đối phương - Lê Đức Thọ đến và từ Bộ Chính trị Hà Nội, và nhiều hồi ký và hồi ký từ phía Bắc Việt Nam.

John M. Carland, một nhà sử học tại Trung tâm Lịch sử Quân sự Quân đội, đã viết Hoạt động chiến đấu: Stemming the Tide, tháng 5 năm 1965-tháng 10 năm 1966, lịch sử chính thức về mười tám tháng chiến đấu đầu tiên của Quân đội tại Việt Nam (2000). Tại Văn phòng Nhà sử học, Bộ Ngoại giao, ông đã biên soạn, biên tập và xuất bản vào năm 2010 hai cuốn lịch sử tư liệu: Việt Nam, tháng 1 - tháng 10 năm 1972Việt Nam, tháng 10 năm 1972 – tháng 1 năm 1973. Khi nghỉ hưu, ông đã hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử thứ ba cho Bộ Ngoại giao: Việt Nam: Đàm phán Kissinger-Lê Đức Thọ, tháng 8 năm 1969-tháng 12 năm 1973, xuất bản vào cuối năm 2017. Cả ba bộ phim tài liệu lịch sử đều nói về mối quan hệ giữa vũ lực và ngoại giao trong bối cảnh thời chiến. Ông cũng đã xuất bản và đưa ra nhiều bài báo và bài báo về Hoa Kỳ và Chiến tranh Việt Nam. Carland có bằng đại học kép về khoa học chính trị và lịch sử của Đại học Arkansas ở Little Rock, bằng Thạc sĩ khoa học chính trị của Đại học Thành phố New York và bằng Tiến sĩ. trong lịch sử từ Đại học Toronto.

George C. Herring đã dành phần lớn sự nghiệp của mình cho việc giảng dạy và viết về Chiến tranh Việt Nam. Ông dạy lớp đầu tiên của mình về cuộc chiến vào mùa xuân năm 1973, khi những người lính Mỹ cuối cùng từ Việt Nam trở về nhà. Cuốn sách của anh ấy, Cuộc chiến dài nhất của Hoa Kỳ: Hoa Kỳ và Việt Nam, 1950-1975, được xuất bản lần đầu năm 1979 và năm sau sẽ tái bản lần thứ sáu - với tựa đề mới. Sách của anh ấy cũng bao gồm Ngoại giao bí mật của chiến tranh Việt Nam: Khối lượng đàm phán của các tài liệu của Lầu Năm Góc (1983) và LBJ và Việt Nam: Một kiểu chiến tranh khác (1994). Là người gốc Virginia, Tiến sĩ Herring tốt nghiệp trường Cao đẳng Roanoke, và sau thời gian phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ, lấy bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ. bằng cấp tại Đại học Virginia. Ông giảng dạy tại Đại học Kentucky từ năm 1969 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2005. Năm 1993-1994, ông là giáo sư thỉnh giảng tại Học viện Quân sự Hoa Kỳ.

Winston Lord đã dẫn đầu một sự nghiệp xuất sắc trong các vấn đề quốc tế, cả trong và ngoài chính phủ. Các chức vụ trong chính phủ của ông bao gồm Trợ lý đặc biệt cho Cố vấn An ninh Quốc gia, Giám đốc Nhân viên Kế hoạch Chính sách của Bộ Ngoại giao. Đại sứ tại Trung Quốc dưới thời Tổng thống Reagan và Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương dưới thời Tổng thống Clinton. Ông cũng đã lãnh đạo hoặc phục vụ nhiều tổ chức phi chính phủ, bao gồm cả với tư cách là Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại và Chủ tịch Ủy ban Cứu hộ Quốc tế. Về các cuộc đàm phán Việt Nam, Lord đã tham dự mọi cuộc họp của Kissinger với miền Bắc và miền Nam Việt Nam từ năm 1970 đến tháng 1 năm 1973. Ông cũng có các chuyến đi liên quan đến Trung Quốc, Liên Xô và Đông Nam Á. Lord là một trong những người soạn thảo chính Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam, cũng như Thông cáo chung Thượng Hải trong chuyến công du của Tổng thống Nixon tới Trung Quốc. Lord tốt nghiệp Đại học Yale (hạng ưu) và trường Fletcher (hạng nhất trong lớp), đồng thời là người nhận được nhiều bằng danh dự và giải thưởng của chính phủ.

Stephen Randolph từng là Nhà sử học của Bộ Ngoại giao từ năm 2012 cho đến khi nghỉ hưu vào cuối năm 2017. Với tư cách là Nhà sử học, ông chịu trách nhiệm xuất bản Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ loạt phim tài liệu chính thức về chính sách đối ngoại và chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Trước khi đến Bộ Ngoại giao, ông đã phục vụ trong mười lăm năm với tư cách là giáo sư, chủ nhiệm bộ môn và phó hiệu trưởng tại Đại học Quốc phòng. Vẫn trước đó, ông từng là phi công chiến đấu, chỉ huy và cố vấn chính sách trong suốt 27 năm làm việc trong Lực lượng Không quân, nghỉ hưu với tư cách đại tá vào năm 2001. Ông là tác giả của Vũ khí mạnh mẽ và tàn bạo: Nixon, Kissinger, và cuộc tấn công Phục sinh, một nghiên cứu về kết cục của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương. Tiến sĩ Randolph tốt nghiệp Học viện Không quân năm 1974, và được trao bằng thạc sĩ Lịch sử Khoa học tại Đại học Johns Hopkins năm 1975 và bằng Tiến sĩ. từ Đại học George Washington vào năm 2005.

Hội thảo Lịch sử Washington do Eric Arnesen (Đại học George Washington) và Philippa Strum (Trung tâm Woodrow Wilson) đồng chủ trì và được đồng tài trợ bởi Trung tâm Lịch sử Quốc gia của Hiệp hội Lịch sử Hoa Kỳ và Trung tâm Wilson. Lịch sử và Chương trình Chính sách Công. Nó họp hàng tuần trong năm học. Hội thảo cảm ơn Hiệp hội Các nhà Sử học về Quan hệ Đối ngoại Hoa Kỳ và Khoa Lịch sử Đại học George Washington đã hỗ trợ họ.


Đang phát trực tuyến

Mr. Tornado

Mr. Tornado là câu chuyện đáng chú ý của người đàn ông có công trình đột phá trong nghiên cứu và khoa học ứng dụng đã cứu sống hàng nghìn người và giúp người Mỹ chuẩn bị và ứng phó với các hiện tượng thời tiết nguy hiểm.

Cuộc thập tự chinh bại liệt

Câu chuyện về cuộc thập tự chinh của bệnh bại liệt tôn vinh thời kỳ mà người Mỹ đã hợp tác với nhau để chiến đấu với căn bệnh khủng khiếp. Bước đột phá về y tế đã cứu sống vô số người và có tác động lan tỏa đến hoạt động từ thiện của người Mỹ mà ngày nay vẫn tiếp tục được ghi nhận.

Oz Mỹ

Khám phá cuộc đời và thời đại của L. Frank Baum, người tạo ra những người yêu quý Phù thủy thần kỳ của xứ Oz.


Đánh giá sách Việt Nam: Hanoi’s War

Trong nhiều năm, cách thức mà Hà Nội tiến hành cuộc chiến - về mặt quân sự, chính trị, ngoại giao - và những người lãnh đạo cuộc chiến đó đã khiến các nhà sử học bối rối. Tuy nhiên, Lien-Hang T. Nguyen đưa ra một câu trả lời mới mẻ hấp dẫn cho những câu hỏi được cho là trong cuốn sách hấp dẫn của cô ấy, Hanoi’s War: An International History of War for Peace in Vietnam.

Trong khi một số nghiên cứu cho rằng Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp có vai trò nổi bật hơn trong việc điều hành nỗ lực chiến tranh ở miền Bắc Việt Nam, thì Nguyễn, một học giả được đào tạo tại Ivy League và là con gái của những người Việt Nam, lập luận thuyết phục rằng đó thực sự là Bí thư thứ nhất của Đảng Lê Duẩn, tiếp tay cho cánh tay phải của mình, Lê Đức Thọ, người đã chỉ huy chính sách của đảng trong chiến tranh.

Sau Hội nghị Genève năm 1954, Hồ và Đảng Công nhân Việt Nam (VWP) chiến thắng của ông ở miền Bắc đối mặt với thách thức tiếp theo là “giải phóng dân tộc” - thống nhất đất nước. Ban đầu, Bộ Chính trị VWP tán thành việc thống nhất thông qua hỗ trợ chính trị cho cuộc nổi dậy của Cộng sản ở miền Nam. Tuy nhiên, Lê Duẩn đã vận động để kích động chính trị và đấu tranh vũ trang để thống nhất hai nước Việt Nam. Được đưa vào Bộ Chính trị vào đầu những năm 1950, Lê Duẩn tin rằng nếu miền Bắc không ủng hộ cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam Việt Nam, Đảng sẽ có nguy cơ mất quyền kiểm soát cuộc nổi dậy của miền Nam.

Nguyễn viết chi tiết nội bộ của VWP tranh cãi về cách thống nhất đất nước, Nguyễn đã phá vỡ hình ảnh được xây dựng cẩn thận của một Đảng thống nhất tiến về chiến tranh. đấu tranh chính trị và cạnh tranh kinh tế. Các “quân tiên phong” do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lãnh đạo đã đẩy mạnh thống nhất đất nước bằng chiến tranh và chiếm dụng các nguồn lực của miền Bắc để hỗ trợ cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam.

Những thất bại trong chính sách đối nội vào giữa những năm 1950 đã làm tổn hại đến uy tín của các quan chức đảng, bao gồm cả Hồ và Giáp, và cuốn Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lên nắm quyền. Không bị ám ảnh bởi một chương trình cải cách ruộng đất thảm hại, năm 1959, Lê Duẩn và Thọ được giao nhiệm vụ lãnh đạo “chiến dịch sửa sai”. Họ cũng bảo đảm thông qua Nghị quyết 15, cho phép đấu tranh vũ trang hạn chế để hỗ trợ cuộc đấu tranh chính trị ở miền Nam.

Lên chức bí thư thứ nhất năm 1960, Lê Duẩn đã nhanh chóng củng cố quyền lực đồng thời đẩy mạnh chủ trương quyết chiến, quyết thắng trên toàn miền Nam. Những người điều hành đảng, những người theo chủ nghĩa Northfirsters và các đối thủ chính trị đã bị bịt miệng trước hành vi tống tiền và đe dọa. Bộ Công an trong tiểu bang cảnh sát đang phát triển của Lê Duẩn đã nhắm mục tiêu vào những người chống lại chính sách của nhà nước. Ngoài ra, Bí thư thứ nhất đã củng cố quyền kiểm soát của Hà Nội đối với cách mạng miền Nam. “Lê Duẩn”, ông Nguyễn viết, “đã vượt qua các đối thủ của ông ở miền Bắc cũng như miền Nam”. Sau đó, vào các năm 1964-65 và sau đó là năm 1968, Lê Duẩn và các chiến binh - không phải Tướng Giáp - đã tiến hành chiến lược chiến tranh chủ lực “Tổng tiến công-nổi dậy” mà Hà Nội dự kiến ​​sẽ lật đổ chế độ Sài Gòn. Cả hai đều thất bại trong việc kết thúc cuộc chiến về mặt quân sự.

Hanoi’s War khéo léo bối cảnh hóa việc ra quyết định của miền Bắc trong bối cảnh chia rẽ ý thức hệ của Chiến tranh Lạnh, đặc biệt là chia rẽ Trung-Xô. Phụ thuộc vào sự lớn mạnh của các nước bảo trợ siêu cường là Trung Quốc và Liên Xô, Bắc Việt Nam đã nhận được những lời khuyên chiến lược trái ngược nhau từ mỗi bên. Matxcơva, mặc dù cung cấp vũ khí cần thiết cho cuộc chiến tranh chủ lực và chinh phục quân sự nhanh chóng, nhưng thường xuyên khuyên Hà Nội đàm phán với Hoa Kỳ Trung Quốc, thay vào đó, cố vấn chống lại các cuộc đàm phán và khuyến nghị một cuộc chiến tranh du kích kéo dài.

Nguyễn cũng đi sâu vào giai đoạn “vừa nói vừa chiến đấu” của cuộc chiến. Lê Duẩn, được thúc đẩy bởi thất bại Tết Mậu Thân, đã miễn cưỡng đồng ý tham gia đàm phán năm 1968. Lấy một loạt các bức điện, điện tín và các thư từ khác được phân loại từ trước đến nay của Cộng sản, Nguyễn đã dựng lại một cách chi tiết chiến lược ngoại giao mà Hà Nội đã áp dụng trong các cuộc đàm phán hòa bình ở Paris và ở các cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Henry Kissinger. Đối đầu với một kẻ thù không kém phần cố chấp là Kissinger, Thọ đã ngăn cản khi có thể và kiên quyết yêu cầu rút quân đội Hoa Kỳ và phế truất Tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu.

Trong khi đó, “cuộc tấn công tam giác” của Nixon, bao gồm quan hệ với Trung Quốc và hòa hoãn với Liên Xô, đã thành công trong việc khiến Bắc Kinh và Moscow gây áp lực lên Hà Nội để giải quyết chiến tranh bằng ngoại giao. Áp lực đó một phần đã thúc đẩy Lê Duẩn và những người cứng rắn phát động cuộc Tổng tấn công Phục sinh 1972. Phấn khích trước thất bại của lực lượng Nam Việt Nam tại Lào năm 1971, và lo sợ rằng Bắc Kinh và Matxcơva sẽ hy sinh chính nghĩa Việt Nam để có quan hệ tốt hơn với Washington, Lê Duẩn lại cố gắng giành chiến thắng về mặt quân sự.

Gây dựng bất thường, Hanoi’s War cho thấy rằng một nhóm những người ra quyết định ở Việt Nam kiên quyết, hành động với sự kiên trì và cơ quan không bình thường, đã ngăn cản sự bất đồng trong nước, các đối thủ trong đảng, ngoại giao siêu cường và sự can thiệp của lực lượng quân sự hàng đầu thế giới để thay đổi tiến trình lịch sử Chiến tranh Lạnh.

Được xuất bản lần đầu trong số tháng 4 năm 2013 của Việt Nam. Để đăng ký, bấm vào đây.


Lê Đức Thọ

Lê Đức Thọ đã có kinh nghiệm lâu năm đấu tranh chống lại các cường quốc khi đàm phán với Henry Kissinger để đình chiến ở Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1973. Khi còn trẻ, ông đã trở thành một người Cộng sản, và chính quyền thực dân Pháp đã giam cầm ông trong nhiều năm. Ông đã giành được một vị trí trong ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Việt Nam trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập sau khi Nhật đánh bại năm 1945, nhưng người Pháp quay trở lại, và Lê Đức Thọ trở thành một trong những nhà lãnh đạo quân sự của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Sau thất bại của người Pháp, Việt Nam bị chia cắt. Hoa Kỳ ủng hộ một chính phủ ở miền Nam Việt Nam mà những người Cộng sản ở miền Bắc coi như một chính phủ bù nhìn của Mỹ. Khi Hoa Kỳ quyết định đàm phán sau năm 1968, Lê Đức Thọ được bổ nhiệm làm trưởng đoàn đàm phán của Bắc Việt Nam, đối đầu với Henry Kissinger.

Khi Hà Nội bị ném bom vào dịp lễ Giáng sinh theo lệnh của Kissinger, Lê Đức Thọ đồng ý đình chiến. Nhưng khi nhận Giải thưởng Hòa bình cùng với Kissinger vào mùa thu năm 1973, ông đã từ chối nhận nó, với lý do rằng số đối diện của ông đã vi phạm hiệp định đình chiến.

Bản quyền & sao chép Viện Nobel Na Uy

Để trích dẫn phần này
MLA style: Le Duc Tho & # 8211 Facts. NobelPrize.org. Tiếp cận Giải Nobel AB 2021. Thứ Tư Ngày 30 tháng 6 năm 2021. & Lthttps: //www.nobelprize.org/prizes/peace/1973/tho/facts/>

Tìm hiểu thêm

Giải thưởng Nobel 2020

Mười hai người đoạt giải đã được trao giải Nobel vào năm 2020, vì những thành tựu mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.

Công việc và khám phá của họ bao gồm từ việc hình thành các lỗ đen và kéo di truyền đến nỗ lực chống lại nạn đói và phát triển các hình thức đấu giá mới.


Henry A. Kissinger, Lê Đức Thọ

Giáng sinh năm 1972 chứng kiến ​​các cuộc ném bom dữ dội vào thủ đô Hà Nội của Bắc Việt Nam bằng máy bay ném bom B-52 của Mỹ. Trên khắp thế giới, hàng nghìn người đã xuống đường biểu tình. Người ra lệnh ném bom đồng thời là mũi nhọn của các cuộc đàm phán ngừng bắn. Hiệp định đình chiến có hiệu lực vào tháng 1 năm 1973, và cùng mùa thu, Henry Kissinger được trao Giải thưởng Hòa bình cùng với người đồng cấp Lê Đức Thọ. Người thứ hai từ chối nhận Giải thưởng, và lần đầu tiên trong lịch sử Giải thưởng Hòa bình có hai thành viên rời khỏi Ủy ban Nobel để phản đối.

Henry Kissinger có gốc gác là người Đức gốc Do Thái. Gia đình chuyển đến Mỹ sau khi Hitler lên nắm quyền. Kissinger nghiên cứu lịch sử và khoa học chính trị và được bổ nhiệm vào một ghế tại Harvard. Trong chiến tranh ở Việt Nam, ông đã chuẩn bị các cuộc đàm phán hòa bình với miền Bắc Việt Nam tại Paris cho Tổng thống Lyndon B. Johnson, một đảng viên Dân chủ, nhưng khi Richard Nixon của đảng Cộng hòa thắng cử năm 1968, Kissinger đổi phe và trở thành cố vấn chính sách đối ngoại thân cận nhất của Nixon. Kissinger tham gia đàm phán trong khi Hoa Kỳ đồng thời đang gây áp lực quân sự nghiêm trọng cho Bắc Việt Nam.

Lê Đức Thọ đã có kinh nghiệm lâu năm chiến đấu chống lại các cường quốc khi đàm phán với Henry Kissinger để đình chiến ở Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1973. Khi còn trẻ, ông đã trở thành một người Cộng sản, và chính quyền thực dân Pháp đã giam cầm ông trong nhiều năm. Ông đã giành được một vị trí trong ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Việt Nam trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập sau khi Nhật đánh bại năm 1945, nhưng người Pháp quay trở lại, và Lê Đức Thọ trở thành một trong những nhà lãnh đạo quân sự của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Sau thất bại của người Pháp, Việt Nam bị chia cắt. Hoa Kỳ ủng hộ một chính phủ ở miền Nam Việt Nam mà những người Cộng sản ở miền Bắc coi như một chính phủ bù nhìn của Mỹ. Khi Hoa Kỳ quyết định đàm phán sau năm 1968, Lê Đức Thọ được bổ nhiệm làm trưởng đoàn đàm phán của Bắc Việt Nam, đối đầu với Henry Kissinger.

Khi Hà Nội bị ném bom vào dịp lễ Giáng sinh theo lệnh của Kissinger, Lê Đức Thọ đồng ý đình chiến. Nhưng khi nhận Giải thưởng Hòa bình cùng với Kissinger vào mùa thu năm 1973, ông đã từ chối nhận nó, với lý do rằng số đối diện của ông đã vi phạm hiệp định đình chiến.


Kinh nghiệm Mỹ

Các cuộc nói chuyện về hòa bình ở Paris:
Năm 1967, với sức mạnh quân số của Mỹ tại Việt Nam lên tới 500.000 người, cuộc phản đối chống lại sự tham gia của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam đã trở nên mạnh mẽ hơn khi ngày càng có nhiều người Mỹ đặt câu hỏi liệu nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ có thể thành công hay là chính đáng về mặt đạo đức. Họ đã xuống đường biểu tình trong các cuộc tuần hành vì hòa bình, biểu tình và các hành động bất tuân dân sự. Bất chấp sự phân cực của đất nước, cán cân của dư luận Mỹ đang bắt đầu chuyển sang hướng "giảm leo thang" chiến tranh.

Lưu trữ quốc gia

Đây là bối cảnh khi Hoa Kỳ và Hà Nội đồng ý tham gia các cuộc đàm phán hòa bình sơ bộ tại Paris vào năm 1968. Tuy nhiên, gần như ngay sau khi cuộc đàm phán bắt đầu, họ đã đình trệ. Khi Tổng thống Lyndon Johnson chuyển giao quyền tổng thống cho Richard Nixon sau 8 tháng đàm phán, điều duy nhất mà hai bên nhất trí là hình dạng của bàn hội nghị.

Bất chấp lời hứa "hòa bình trong danh dự" của ứng cử viên Nixon, bế tắc sẽ tiếp tục kéo dài trong ba năm rưỡi của các cuộc họp công khai và bí mật ở Paris. Hai vấn đề chính đã khóa cả hai bên. Washington muốn tất cả quân đội miền Bắc ra khỏi miền Nam Việt Nam. Vào tháng 6 năm 1969, Hoa Kỳ thực hiện đợt rút quân đầu tiên, như một phần của kế hoạch "Việt Nam hóa", theo đó quân đội Nam Việt Nam sẽ dần dần hoàn thành các trách nhiệm quân sự trong cuộc chiến trong khi tiếp tục được Hoa Kỳ cung cấp vũ khí.

Vào tháng 2 năm 1970, cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger bắt đầu các cuộc gặp trực tiếp bí mật với nhà đàm phán Bắc Việt Lê Đức Thọ bên ngoài Paris trong khi tiến trình hòa bình chính thức tiếp tục trong thành phố. Tuy nhiên, có rất ít tiến bộ sẽ đạt được cho đến mùa hè năm 1972. Khi đó, Nixon đang theo đuổi mối quan hệ chặt chẽ với cả Trung Quốc và Liên Xô và mong muốn đưa Việt Nam đi sau mình trước cuộc bầu cử tiếp theo. Cả hai bên đều muốn hòa bình. Hà Nội lo sợ bị cô lập về chính trị nếu Hoa Kỳ có quan hệ hợp tác với Trung Quốc và Liên Xô. Họ cũng biết rằng hòa bình sẽ chấm dứt cuộc ném bom đáng sợ của Hoa Kỳ và cuối cùng có thể có nghĩa là sự rút lui hoàn toàn của gã khổng lồ quân sự. Nixon muốn chuyển sang các sáng kiến ​​chính sách đối ngoại khác.

Kissinger đảm bảo với miền Bắc rằng quân đội của họ sẽ có thể ở lại miền Nam sau khi ngừng bắn. Kissinger cũng ủng hộ sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với chế độ Thiệu bằng cách đồng ý với một ủy ban bầu cử gồm những người trung lập, Việt Cộng và các thành viên của chính quyền Sài Gòn sẽ giám sát việc dàn xếp chính trị ở miền Nam. Đổi lại, miền Bắc rút lại điều kiện loại bỏ Thiệu, và đồng ý rằng dòng quân Việt Nam vào miền Nam trong tương lai sẽ dừng lại.

Đến tháng 10 năm 1972, một thỏa thuận ngừng bắn dự kiến ​​đã đạt được. Thỏa thuận kêu gọi rút quân đồng thời và trao trả tự do cho tù binh Mỹ, sau đó là một giải pháp chính trị cho tương lai của miền Nam Việt Nam. Washington sẽ mở rộng hỗ trợ kinh tế sau chiến tranh để giúp Việt Nam xây dựng lại cơ sở hạ tầng bị phá hủy. Vào ngày 22 tháng 10, Nixon đình chỉ tất cả các cuộc ném bom phía bắc vĩ tuyến 20 và 4 ngày sau Kissinger tuyên bố rằng "hòa bình đã ở trong tầm tay."

Lễ kỷ niệm đã quá sớm. Thiệu, người không được hỏi ý kiến ​​trong cuộc đàm phán bí mật, đã yêu cầu những thay đổi khiến Hà Nội tức giận, và các cuộc đàm phán đã nổ ra vào ngày 13 tháng 12. Nixon, bị kẹt giữa một đồng minh ngoan cố và một kẻ thù cứng rắn, đã hành động. He promised Thieu $1 billion in military equipment that would give South Vietnam the fourth largest air force in the world and assured Thieu that the United States would re-enter the war if North Vietnam did not abide by the peace. They were promises that Thieu had no reason to doubt Nixon had just won a landslide election and the Watergate affair was nearly invisible on the political landscape.

As for the stick, Nixon resolved to punish the North. During 12 days of the most concentrated bombing in world history, called the Christmas bombing, American planes flew nearly 2,000 sorties and dropped 35,000 tons of bombs against transportation terminals, rail yards, warehouses, barracks, oil tanks, factories, airfields and power plants in the North. In two short weeks, 25 percent of North Vietnam's oil reserves and 80 percent of its electrical capacity were destroyed. The U.S. lost 26 aircraft and 93 air force men.

When peace talks resumed in Paris on January 8, 1973, an accord was reached swiftly. The peace agreement was formally signed on January 27, 1973. It closely resembled what had been agreed to back in October of the previous year. Kissinger later justified the accord by saying, "We believed that those who opposed the war in Vietnam would be satisfied with our withdrawal, and those who favored an honorable ending would be satisfied if the United States would not destroy an ally."

America's longest war was over.

The release of POWs:
In the days following the signing of the peace accord on January 27, 1973, the American prisoners of war got word that the war was over. Camp officers read the news from prepared texts stating that the men would be released 120 at a time at two-week intervals. The sick and wounded were scheduled to depart first the others would follow in the order in which they were captured.

As the men were dismissed following the announcement at Hoa Lo., Lt. Colonel Robinson Risner about-faced and called to the 400 men, "Fourth Allied POW Wing, atten-hut!" Lt. Gerald Coffee remembered the men's reaction. "The thud of eight hundred rubber-tire sandals coming together smartly was awesome." Squadron commanders returned the salute and then dismissed their units with a unified "Squadron, dis . . . missed!"

Some were reluctant to believe the news. Coffee's squadron commander Lt. Everett Alvarez, in captivity for 8 1/2 years, said to Coffee: "You know, I've been up and down so many times over the years that I'm not sure what to think. It looks good, everything seems right, but I'll believe it when I see it. I'm not ready to party it up . . . yet."

Those who believed the announcement was true had a wide variety of reactions. Coffee said that "some men were exchanging a wink and a smile or a light punch on the shoulders, but most, with minds racing unto themselves, already projected themselves twelve thousand miles away and considered the joyful and spooky prospect of reunions with loved ones." POW Sam Johnson remembers his group at Hoa Lo "ran to each other, hugging and crying and whooping with joy." At the another Hanoi prison camp, Plantation, Al Stafford felt "a kind of emptiness which changed, slowly, to profound, bottomless fatigue." He explained afterwards that he had never felt so tired and so vacant in his life, which expressed itself in a deep desire to go back to his cell and sleep.

With the peace, the persistently austere POW conditions were finally relaxed. The men were given letters from families that had been withheld for months and years, along with supplies and other presents from home, including MAD tạp chí. The prisoners started receiving fresh supplies of bread and vegetables, canned meat and fish, undoubtedly attempts by the North Vietnamese to get the men looking better.

In the hours and days before their release, POWs imagined their future lives. Alvarez daydreamed of "returning to a normal life" in which "we would make our own decisions and set our own agendas." The expectation of normal, daily activities -- getting in a car and cruising down a highway or rolling in a haystack -- filled him with "tingling anticipation. I would get up whenever I pleased, make my own selection of clothing, eat whatever I wanted, and go wherever I fancied."

The last evening in Hoa Lo, Vietnamese guards gave the American prisoners their going-away clothes. Coffee recalled that his fellow soldiers eyed the clothes "like a bunch of little kids in a toy store." They played with the zippers on their jackets and laced and unlaced shoelaces that "we hadn't seen . . . for years." The men were given small black tote bags to carry what they had -- cigarettes, toiletries and gifts they'd received. Some snuck in a souvenir of captivity. For Alvarez, this was a tin drinking cup he said he had used "for so long that it had taken on the sentimental value of a baby's cup."


Xem video: ДиДюЛя - Путь домой! Дидюля Полет на Меркурий. ДАР от БОГА. (Tháng MườI Hai 2021).