Lịch sử Podcast

Người Mỹ ở Antebellum Trước Nội chiến Mỹ - Lịch sử

Người Mỹ ở Antebellum Trước Nội chiến Mỹ - Lịch sử


Người Mỹ ở Antebellum Trước Nội chiến Mỹ - Lịch sử

Người Mỹ trước Nội chiến coi người miền Nam là một dân tộc khác biệt, họ sở hữu những giá trị và cách sống riêng của họ. Tuy nhiên, nhiều người đã nhầm tưởng rằng miền Bắc và miền Nam ban đầu được định cư bởi hai nhóm người nhập cư riêng biệt, mỗi nhóm có đặc tính riêng của mình. Người phương Bắc được cho là hậu duệ của những người Thanh giáo Anh thế kỷ 17, trong khi người miền Nam là hậu duệ của nền lịch sử nước Anh.

Trong mắt nhiều người Mỹ trước Nội chiến, điều này đã góp phần vào sự phát triển của hai kiểu người Mỹ khác biệt: Yankee hiếu chiến, cá nhân, hám tiền và người miền Nam ung dung. Theo định kiến ​​phổ biến, người ung dung, không giống như Yankee, rất nhạy cảm với sự xúc phạm, thờ ơ với tiền bạc và bận tâm đến danh dự.

Trong ba thập kỷ trước Nội chiến, các nhà văn bình dân đã tạo ra một khuôn mẫu, ngày nay được gọi là truyền thuyết đồn điền, mô tả miền Nam như một vùng đất của những người trồng trọt quý tộc, những chiếc chuông miền Nam xinh đẹp, rác rưởi nghèo nàn, nô lệ gia đình trung thành và những người làm ruộng mê tín. Hình ảnh miền Nam như "vùng đất bông, nơi xưa cũ không bị lãng quên" đã được thể hiện phổ biến nhất vào năm 1859 trong một bài hát có tên "Dixie," do một người miền Bắc tên là Dan D. Emmett sáng tác để làm sống động các buổi biểu diễn do một đoàn kịch của những người diễn kịch mặt đen trên sân khấu New York.

Trong mắt nhiều người miền Bắc, khó chịu với xã hội ngày càng thành thị, cá nhân và thương mại, văn hóa miền Nam dường như không có nhiều thứ ở miền Bắc - nhịp sống nhàn nhã, thứ bậc xã hội rõ ràng, và sự thờ ơ với tiền bạc. .

Mặc dù có thế mạnh về khuôn mẫu đồn điền, nhưng trên thực tế, miền Nam là một khu vực đa dạng và phức tạp. Mặc dù người Mỹ ngày nay thường liên hệ miền Nam cũ với các đồn điền trồng bông, nhưng phần lớn miền Nam không thích hợp cho cuộc sống đồn điền. Ở các vùng miền núi phía đông Tennessee và tây Virginia, người ta thấy rất ít đồn điền hoặc nô lệ. Các trang trại và đồn điền ở miền Nam cũng không dành toàn bộ nỗ lực của họ để trồng bông hoặc các loại cây thu tiền khác, chẳng hạn như lúa và thuốc lá. Không giống như các xã hội nô lệ ở Caribe, nơi sản xuất cây trồng dành riêng cho xuất khẩu, miền Nam dành phần lớn năng lượng của mình để chăn nuôi và gia súc.

Miền Nam trước Nội chiến bao gồm nhiều khu vực khác nhau về địa lý, kinh tế và chính trị. Những vùng như vậy bao gồm Piedmont, Tidewater, đồng bằng ven biển, rừng thông, châu thổ, dãy núi Appalachian, vùng cao và một vành đai đen phì nhiêu - những vùng đã xung đột nhiều lần về các câu hỏi chính trị như giảm nợ, thuế, tỷ lệ đại diện và cải thiện nội bộ.

Cấu trúc xã hội của người da trắng ở miền Nam phức tạp hơn nhiều so với định kiến ​​phổ biến về những quý tộc kiêu hãnh coi thường công việc lương thiện và những người da trắng nghèo dốt nát, xấu xa, bị bóc lột. Cấu trúc xã hội phức tạp của miền Nam cũ bao gồm nhiều chủ nô nhỏ và tương đối ít chủ nô lớn.

Những chủ nô lớn là cực kỳ hiếm. Vào năm 1860, chỉ có 11.000 người miền Nam, ba phần tư của một phần trăm dân số da trắng sở hữu hơn 50 nô lệ và chỉ có 2.358 sở hữu tới 100 nô lệ. Tuy nhiên, mặc dù số lượng chủ nô lớn rất ít, nhưng họ sở hữu hầu hết nô lệ của miền Nam. Hơn một nửa số nô lệ sống trên các đồn điền với 20 nô lệ trở lên và một phần tư sống trên các đồn điền với hơn 50 nô lệ.

Sở hữu nô lệ tương đối phổ biến. Trong nửa đầu thế kỷ 19, một phần ba tổng số gia đình da trắng miền nam sở hữu nô lệ và phần lớn các gia đình da trắng miền nam sở hữu nô lệ, đã sở hữu hoặc dự kiến ​​sẽ sở hữu chúng. Những chủ nô này rất đa dạng. Một số ít là người Mỹ gốc Phi, người mulatto, hoặc người Mỹ bản địa 1/10 là phụ nữ và hơn 1/10 làm nghệ nhân, doanh nhân hoặc thương gia hơn là nông dân hoặc chủ đồn điền. Ít có cuộc sống nhàn hạ hay tinh tế.

Những chủ nô trung bình sống trong một chòi gỗ hơn là một dinh thự và là một nông dân hơn là một chủ đồn điền. Việc nắm giữ trung bình dao động từ bốn đến sáu nô lệ, và hầu hết các chủ nô sở hữu không quá năm.

Phụ nữ da trắng ở miền Nam, mặc dù mang hình ảnh của người phụ nữ miền Nam váy ôm, nhưng phải chịu gánh nặng nặng nề hơn những người phụ nữ miền Bắc của họ. Họ kết hôn sớm hơn, sinh nhiều con hơn và có nhiều khả năng chết trẻ. Họ sống cô lập hơn, ít được tiếp cận với công ty của những phụ nữ khác, và thiếu sự thỏa mãn của các hiệp hội tình nguyện và các phong trào cải cách. Giáo dục của họ ngắn hơn và ít có khả năng dẫn đến cơ hội cho sự nghiệp độc lập.

Truyền thuyết về đồn điền đã bị sai lệch ở các khía cạnh khác. Chế độ nô lệ không chết cũng không sinh lợi. Vào năm 1860, miền Nam giàu có hơn bất kỳ quốc gia nào ở châu Âu ngoại trừ Anh, và nó đã đạt được mức độ giàu có chưa từng có ở Ý hay Tây Ban Nha cho đến trước Thế chiến thứ hai.

Nền kinh tế miền nam tạo ra của cải khổng lồ và là yếu tố quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế của toàn nước Mỹ. Hơn một nửa trong số 1% người Mỹ giàu nhất vào năm 1860 sống ở miền Nam. Quan trọng hơn nữa, nông nghiệp miền Nam đã giúp tài trợ cho tăng trưởng kinh tế Mỹ vào đầu thế kỷ 19. Trước Nội chiến, miền Nam đã trồng 60% lượng bông của thế giới, cung cấp hơn một nửa tổng thu nhập xuất khẩu của Hoa Kỳ và cung cấp 70% lượng bông tiêu thụ cho ngành dệt may của Anh. Xuất khẩu bông đã trả cho một phần đáng kể vốn và công nghệ đặt nền tảng cho cuộc cách mạng công nghiệp của Mỹ.

Ngoài ra, chính vì miền Nam chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp, miền Bắc đã phát triển nhiều loại hình kinh doanh cung cấp dịch vụ cho các bang miền Nam, bao gồm các ngành dệt may và chế biến thịt, các cơ sở tài chính và thương mại.


Kỷ nguyên giải phóng / tái thiết (1865-1887)

1846-1855
Các hồ sơ được trưng bày trong cuộc triển lãm này ghi lại cuộc đấu tranh ban đầu của người Scotts để giành được tự do thông qua kiện tụng và là hồ sơ duy nhất còn tồn tại về vụ án quan trọng này khi nó được xét xử tại Tòa án St. Louis Circuit. Hồ sơ vụ án ban đầu của Dred Scott được đặt tại Văn phòng Thư ký Đường đua St. Louis.

Bộ sưu tập này là phiên bản mở rộng và cập nhật của Bộ sưu tập vỏ hộp Dred Scott gốc. Bộ sưu tập, đã được mở rộng từ 85 đến một trăm mười một tài liệu, hơn 400 trang văn bản. Ngoài ra, bộ sưu tập hiện là tài nguyên toàn văn, có thể tìm kiếm đại diện cho lịch sử trường hợp đầy đủ của Vụ án Dred Scott.


Những hình phạt nô lệ ở Antebellum American South

Chế độ nô lệ được thực hiện ở Hoa Kỳ trước Nội chiến là sự thiết lập hợp pháp của sự nô dịch của con người, chủ yếu, nhưng không phải riêng, của người châu Phi và con cháu của họ. Chế độ nô lệ Chattel được đặt tên như vậy bởi vì nô lệ là tài sản cá nhân của chủ sở hữu và được mua bán như một loại hàng hóa, và địa vị nô lệ đã được áp đặt cho những người bị bắt làm nô lệ ngay từ khi mới sinh ra. Hình thức nô lệ này trái ngược với các hình thức khác như lao động ngoại quan, trong đó một người cầm cố để vay nợ.

Trong chế độ nô lệ chattel, giới hạn trừng phạt nô lệ chỉ do chủ nhân đặt ra, vì họ có quyền hợp pháp làm bất cứ điều gì họ muốn. Do đó, nô lệ ở miền Nam Hoa Kỳ đã trải qua mức độ tàn bạo khủng khiếp.

Một nô lệ sẽ bị trừng phạt vì:

  • Chống lại chế độ nô lệ
  • Làm việc không đủ chăm chỉ
  • Nói quá nhiều hoặc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ
  • Ăn trộm từ chủ nhân của mình
  • Giết người da trắng
  • Cố gắng chạy trốn

Lady Antebellum và sự tôn vinh của miền Nam trước Nội chiến

Vài tháng trước, & ldquoNeed You Now & rdquo của nhóm nhạc đồng quê Lady Antebellum nằm trong số các bản tải xuống miễn phí iTunes & rsquo. Tôi & rsquom một người yêu âm nhạc tò mò với thị hiếu chiết trung, vì vậy tôi đã chọn bài hát cho iPod của mình. Nó hấp dẫn và tuyệt vời theo cách không gây khó chịu và mang hơi hướng pop-y của thể loại crossover country & ndashthink Carrie Underwood không phải là alt-country thô kệch hơn của Lucinda Williams. Tôi & rsquoll sẽ giữ lại bài hát, bài hát này sẽ phù hợp tuyệt vời trong một số danh sách phát trong tương lai. Nhưng ban nhạc chê tôi. Nó & rsquos không phải là âm nhạc mà nó & rsquos cái tên. & ldquoLady Antebellum & rdquo đối với tôi dường như là một ví dụ về cách mà chúng ta vẫn còn và trước mắt là 150 năm sau khi kết thúc Nội chiến, gần 50 năm sau khi tổ chức Civil Rights Ac và ở một quốc gia được cho là hậu chủng tộc do một tổng thống hai chủng tộc lãnh đạo & ndashglorify một nền văn hóa dựa trên sự đàn áp bạo lực đối với người da màu.

Theo một bài báo trong Biên niên sử Augusta, ý tưởng cho cái tên & ldquoLady Antebellum & rdquo xuất hiện sau một buổi chụp ảnh trong đó các thành viên ban nhạc mặc trang phục thời Nội chiến. Có vẻ như vô hại & ndash chỉ một cái gật đầu với ban nhạc & rsquos bắt nguồn từ phía nam Mason-Dixon Line, một sự công nhận của Old South.

Theo đó, Wikipedia định nghĩa thời kỳ tiền tiểu cầu:

Theo ý thức của công chúng, một phần của câu chuyện này được chuyển thành Cuốn theo chiều gió- kiểu thần thoại về những trang viên lớn nằm trên những đồn điền rộng lớn, những thiếu nữ da trắng nõn nà, thanh tú trong những chiếc váy xếp nếp, những người đàn ông dũng cảm và đẹp trai trong trang phục màu xám và rắn rỏi, các giá trị truyền thống của Mỹ. Khung cảnh hồng hào này của Nam trước chỉ phù hợp nếu bạn không gãi quá sâu. Nhưng chúng tôi & rsquore không có khả năng làm điều đó và làm xáo trộn phiên bản lịch sử yêu nước. Chúng tôi thích huyền thoại hơn.

Đó là lý do tại sao, trong nhiều năm, ít nhất hai người phụ nữ đã tấn công tôi: & ldquo Tôi sẽ chỉ yêu quý quay trở lại thời điểm đó! & rdquo Một, một phụ nữ da trắng gần đây đã đọc cuốn tiểu thuyết Margaret Mitchell đã trở thành bộ phim kinh điển, không cho rằng đối với cô ấy & ldquoScarlett & rdquo, tôi sẽ phải là một người da đen làm việc trên cánh đồng. Gia đình tôi sẽ phải sống trong tù túng như chattel & ndashour, cuộc sống phụ thuộc vào những ý tưởng bất chợt của chủ nhân của chúng tôi. Cách sống của cô gắn liền với thời kỳ tiền thế kỷ, và nền kinh tế hỗ trợ nó, phụ thuộc vào lao động tự do và sự mất nhân tính của người da màu (chưa kể đến chủ nghĩa giai cấp và phân biệt giới tính). Là một người Mỹ gốc Phi nô lệ, tôi không thể bỏ qua thực tế cay đắng đó. Người quen của tôi đã đọc Cuốn theo chiều gió và tự hỏi sẽ tuyệt vời như thế nào khi trở thành Scarlett O & rsquoHara. Tôi tự hỏi rằng chắc hẳn Mammy đã phải kinh khủng như thế nào.

Là một nhà nghiên cứu lịch sử gia đình nghiệp dư, tôi đã lùng sục các bản di chúc và hóa đơn mua bán đất đai phương Nam để tìm tên các cụ cố của tôi trong số những đồ sành sứ và ngựa. Một khi bạn đã làm điều đó, khó có thể coi việc thần thoại hóa văn hóa Nam Bộ là lành tính.

Tôi đã nghĩ về sự thật này vào tuần trước khi tôi đọc xong Manhunt, của James Swanson. Cuốn sách là một câu chuyện hấp dẫn về cuộc tìm kiếm kéo dài 12 ngày tìm kiếm sát thủ Abraham Lincoln & rsquos, đồng tình của Liên minh miền Nam John Wilkes Booth. Manhunt là một tài khoản lịch sử giống như một cuốn tiểu thuyết của James Patterson. Tôi không thể & rsquot đặt nó xuống, mặc dù biết câu chuyện kết thúc như thế nào. Cuốn sách bao gồm những câu chuyện cá nhân ly kỳ về một sự kiện quan trọng trong lịch sử Hoa Kỳ. Nghe những ấn tượng về gia đình Tổng thống Lincoln & rsquos, các thành viên trong Nội các của ông, những người trung thành với Liên minh và những người nổi dậy, đã làm cho lịch sử trở nên sống động.

Sau khi đạt Manhunt& lsquos midpoint, tôi nghĩ chắc chắn nó sẽ trở thành cuốn sách mà tôi nhiệt tình giới thiệu cho các độc giả khác. Nhưng tôi thấy rằng khi John Wilkes Booth & rsquos saga mặc vào, Swanson dường như đang xoa dịu tên sát thủ, điều mà tôi thấy khó chịu và không hề có chút xúc phạm nào. Gian hàng được vẽ bằng văn xuôi màu tím. Tác giả nói đi nói lại về nam diễn viên & rsquos làn da trắng nõn nà, mái tóc đen dày, sự quyến rũ và trang phục lịch lãm. Chúng ta tìm hiểu về niềm tin đam mê của Booth & rsquos, niềm tin của anh ấy rằng mục đích của anh ấy là cao cả và những bất tiện của cuộc sống khi chạy trốn. Booth trở thành một anh hùng, trong khi những kẻ theo đuổi anh ta bị lôi kéo như những con ong vò vẽ nhỏ, háo hức kiếm tiền từ danh tiếng và tiền bạc liên quan đến việc mang theo kẻ giết tổng thống & rsquos. Swanson thậm chí còn so sánh Booth với Jesus hai lần.

Cuối cuốn sách, Swanson viết về việc nhiều năm sau vụ ám sát Lincoln & rsquos, Booth đã tìm thấy một danh tiếng anh hùng mà Lee Harvey Oswald hay James Earl Ray sẽ không bao giờ có được. Không có ví dụ nào tốt hơn về điều này hơn Manhunt chính nó, dường như quên mất rằng ngôi sao sân khấu Booth & ndashcharming mặc dù anh ta là & ndashwas, quan trọng hơn, vô ích, một kẻ giết người, một kẻ phản bội, một kẻ phân biệt chủng tộc và một kẻ cuồng dâm.

Đây là một ví dụ khác về cách chúng ta nhìn lại sự nghiệp của Liên minh miền Nam, miền Nam thời kỳ trước và nền văn hóa nô lệ. Tôi không thể tưởng tượng được một cuốn sách lấy bối cảnh ở Đức vào thời điểm Chiến tranh thế giới thứ hai lại gây ấn tượng bởi sự quyến rũ và vẻ ngoài của những người bảo vệ Đệ tam Đế chế hay đề cập đến việc các thành viên của Đảng Quốc xã nghĩ rằng mục đích của họ cao cả như thế nào. Chúng tôi sẽ không coi những đối thủ đó là bất cứ thứ gì ngoài những kẻ phản diện vì tội ác mà họ đã gây ra chống lại loài người. Tuy nhiên, hãy đề cập đến miền Nam antebellum hoặc Liên minh miền Nam, và một số người Mỹ có đôi mắt như sao. Không ai nghĩ đến hơn 10 triệu người châu Phi bị bắt làm nô lệ đã chết ở Middle Passage hoặc ở một đồn điền hay trang trại nhỏ nào đó. Không ai nghĩ đến những người bị từ chối quyền tự do và con người để nền kinh tế miền Nam đi lên, và tất cả những người Rhetts và Scarletts đó có thể ngồi trong những ngôi nhà sang trọng của họ, khoe những bộ quần áo và cách cư xử sang trọng của họ. Việc nước Mỹ quên đi tổ tiên của tôi, trong khi khao khát những ngày & ldquoglory & rdquo mà sự nô dịch của họ có thể thực hiện được, thật là xúc phạm.

Tôi không thích những gì lá cờ Liên minh đại diện và ghét nhìn thấy nó bay. Tôi nghĩ một thế kỷ là không đủ dài để biến một sát thủ thành anh hùng. Và một ban nhạc đồng quê giữa đường với cái tên quay trở lại những ngày trước Nội chiến không & rsquot cảm thấy lành tính với tôi. Bạn có thể nói rằng tôi đang suy nghĩ quá nhiều. Tôi nói rằng đôi khi xã hội không & rsquot suy nghĩ đủ kỹ về các yếu tố của lịch sử mà chúng ta yêu mến.


Bãi bỏ và Cải cách Antebellum

Khi người theo chủ nghĩa bãi nô ở Boston, Thomas Wentworth Higginson, nhìn lại những năm trước Nội chiến, ông đã viết, “khi đó đã thịnh hành một cụm từ,“ Tình chị em của những cuộc Cải cách ”.” Ông đã nghĩ đến “nhiều lý thuyết xã hội và tâm lý trong đó đã được mong đợi để chấp nhận tất cả, nếu có. " Trong tình chị em đó, chống chế độ nô lệ nổi bật là chủ đề được nhớ đến nhiều nhất và tranh luận sôi nổi nhất, mặc dù nó không phải là lớn nhất về số lượng thành viên hoặc lâu dài nhất. (Danh dự đó thuộc về phong trào ôn hòa.) Chủ nghĩa bãi bỏ tiếp tục thu hút vì vị trí của nó trong cuộc xung đột giữa các bộ phận dẫn đến Nội chiến, cuộc tấn công vào bất bình đẳng giới và chủng tộc, và sự báo trước của nó về Phong trào Dân quyền thế kỷ XX.

Tuy nhiên, đôi khi, sẽ hữu ích khi xem xét chủ nghĩa bãi nô liên quan đến Tình chị em của những cải cách của Higginson. Những năm từ 1815 - năm đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh 1812 - và 1861 đã thực sự tạo ra một sự nở rộ đáng kể của các phong trào nhằm cải thiện xã hội, đạo đức và cá nhân. Một số trông có vẻ ngớ ngẩn theo quan điểm ngày nay (liệu bưu phí rẻ có thực sự thúc đẩy sự thống nhất và hiểu biết quốc tế?), Nhưng nhiều người đương thời vẫn coi chúng một cách nghiêm túc. Và mặc dù Higginson đã phóng đại mối liên hệ giữa các phong trào, những người tin vào cải cách chống nô lệ cũng tương đối phổ biến đối với những cải cách tôn giáo, quyền phụ nữ, điều độ và cải cách sức khỏe. (Chế độ ăn uống sau này dựa trên ý tưởng rằng chế độ ăn uống thích hợp - một chế độ ăn chay nghiêm ngặt - có thể loại bỏ bệnh tật và tạo ra những con người có đạo đức.)

Đặt vấn đề chống chế độ nô lệ trong tình chị em giúp chúng ta thấy được cả những gì đã có và những gì không khác biệt ở nó, cũng như bắt đầu giải quyết câu hỏi lớn hơn là tại sao một số giai đoạn nhất định trong lịch sử Hoa Kỳ lại cung cấp mảnh đất màu mỡ đặc biệt cho các phong trào cải cách. Câu trả lời cho câu hỏi thứ hai không phải lúc nào cũng đơn giản. Say rượu không bắt đầu vào khoảng năm 1819, khi một phong trào ôn hòa bắt đầu hình thành chế độ nô lệ không đột ngột thay đổi vào năm 1831, năm mà một phong trào chống chế độ nô lệ mới, triệt để hơn đã xuất hiện và việc áp bức phụ nữ không bắt đầu vào khoảng năm 1848, năm của đại hội quyền phụ nữ tiên phong ở Seneca Falls, New York. Đối với vấn đề đó, sự phân biệt đối xử và phân biệt chủng tộc đã bắt đầu tốt trước khi Phong trào Dân quyền thế kỷ XX. Việc trả lời câu hỏi về thời điểm càng trở nên khó khăn hơn bởi thực tế là các giai đoạn hoạt động cải cách căng thẳng đôi khi trùng với các cuộc khủng hoảng kinh tế, như trường hợp đáng chú ý là trong cuộc Đại suy thoái những năm 1930, trong khi tại các thời điểm khác, chẳng hạn như Kỷ nguyên Tiến bộ ( 1890–1919) và những năm 1960, thời kỳ cải cách cũng là thời kỳ thịnh vượng chung. Nhưng bất kể các phong trào cải cách diễn ra trong thời điểm kinh tế tốt hay xấu, điểm mấu chốt là các phong trào cải cách thường không chỉ là những phản ứng đơn giản, trực tiếp đối với một vấn đề được nhận thức.

Nhiều thay đổi đã hội tụ sau Chiến tranh năm 1812 để tạo ra Tình chị em của những cải cách. Những cải tiến trong giao thông vận tải — đặc biệt là tàu hơi nước, kênh đào và đường sắt — ​​giúp việc gửi giảng viên và ấn phẩm dễ dàng hơn — bao gồm những người theo chủ nghĩa bãi nô, những nhà cải cách khác và các bài viết của họ — đi xa và rộng hơn. Và công nghệ in mới vào những năm 1830 đã hạ giá thành xuất bản phẩm, kể cả những ấn phẩm của những người theo chủ nghĩa bãi nô.

Đồng thời, nền kinh tế năng động của Mỹ đã tạo ra một tầng lớp đàn ông và phụ nữ mới có thời gian nhàn rỗi và nguồn tài chính để cống hiến cho các phong trào cải cách. Sự so sánh với các nhà cải cách thế kỷ mười tám đang bộc lộ. Số lượng họ ít hơn và, với một số ngoại lệ đáng chú ý (chủ yếu là Quakers), có xu hướng là những người bán thời gian như Benjamin Franklin, người đã nghỉ hưu hoặc có công việc khác. Ngược lại, những nhà cải cách tiền kỳ dị lại nhiều hơn và, trong những trường hợp như nhà biên tập chủ nghĩa bãi nô William Lloyd Garrison, không có nghề nghiệp nào khác.

Sự thay đổi kinh tế và xã hội cũng tạo ra một bối cảnh tâm lý cho cải cách. Sau năm 1820, sự phát triển nhanh chóng của các thành phố và mở rộng thương mại và sản xuất dường như vừa báo trước một tương lai huy hoàng, vừa mở ra cánh cửa cho những cám dỗ và ngược lại. Làm thế nào để đảm bảo rằng Chúa, chứ không phải Satan và Mammon, sẽ chiến thắng?

Đằng sau câu hỏi đó là hai truyền thống mạnh mẽ buộc các nhà cải cách phải đối chiếu những gì người Mỹ và người Mỹ với những gì họ phải trở thành. Một là di sản của Cách mạng Mỹ. Ngay cả khi những người chỉ trích nhất chính phủ của họ, những người cải cách vẫn khơi gợi nó. Công ước về quyền của phụ nữ đầu tiên đã mô phỏng tuyên bố của mình sau Tuyên ngôn Độc lập. Tương tự, sau khi công khai và khét tiếng đốt bản sao Hiến pháp vào ngày 4 tháng 7 năm 1854, William Lloyd Garrison đã hỏi, "Thế nào là một người theo chủ nghĩa bãi nô nhưng một lòng tin tưởng chân thành vào Tuyên ngôn 76?" Ông ta đang từ chối một chính phủ ủng hộ chế độ nô lệ, chứ không phải các nguyên tắc của Cách mạng.

Truyền thống khác là đạo Tin lành truyền giáo. Một làn sóng cuồng nhiệt tôn giáo vào đầu thế kỷ 19 - đôi khi được gọi là Đại thức tỉnh lần thứ hai - đã quét từ tây sang đông và đốt cháy trái tim của hàng triệu người Mỹ. Nó khuyến khích nhiều người tin rằng họ có mệnh lệnh đạo đức phải làm những gì có thể để mang lại Nước Đức Chúa Trời trên đất. Mặc dù không phải tất cả những người truyền đạo đều là những người cải cách, và không phải tất cả những người cải cách đều là những người truyền bá Phúc âm, nhưng Awakening đặt sức mạnh của tôn giáo đằng sau niềm tin rằng những người đàn ông và phụ nữ cá nhân có thể thay đổi thế giới, thay vì chấp nhận một cách thụ động bất cứ số phận nào đã được sắp đặt sẵn, như tổ tiên của họ thường đã hoàn thành.

Tại sao họ phải kết luận rằng công việc đó rơi vào tay họ hơn là người lãnh đạo của họ? Nhà quan sát nước ngoài nổi tiếng nhất của nước cộng hòa non trẻ, Alexis de Tocqueville, đã bị ảnh hưởng bởi xu hướng đặc biệt của người Mỹ là thành lập các “hiệp hội tự nguyện” địa phương để hoàn thành nhiều mục tiêu, bao gồm cả cải cách. Nhìn chung, đây là một cách tiếp cận hợp lý trong một quốc gia có ít nguồn thể chế hiệu quả về thẩm quyền đạo đức và một quốc gia có thể chế chính trị tương đối yếu, không có nhà thờ quốc gia và một nền văn hóa không tin tưởng vào quyền lực của chính phủ. Việc sử dụng các hiệp hội tự nguyện cũng phản ánh cảm giác của một số người — đặc biệt là những người theo chủ nghĩa bãi nô cấp tiến nhất — rằng các quan chức được bầu là một phần của vấn đề, không phải là giải pháp. Các nhà cải cách Antebellum tin vào sự tuyệt đối về mặt đạo đức, các chính trị gia tin vào nghệ thuật của thỏa thuận, ngay cả khi kết quả là thỏa hiệp với một tệ nạn như chế độ nô lệ. Trong hoàn cảnh đó, có vẻ tốt hơn là đi vòng quanh hệ thống chính trị hơn là thông qua nó (những người cải cách lập trường và một số người theo chủ nghĩa bãi nô bắt đầu xem xét lại vào những năm 1840).

Nếu có nhiều thay đổi kết hợp với nhau sau Chiến tranh năm 1812 để tạo ra Tình chị em của Cải cách, thì họ không xác định được thế nào những nhà cải cách antebellum đã cố gắng thay đổi thế giới hoặc những gì họ coi là sai lầm chính của nó. Ngay cả trong một phong trào như chủ nghĩa bãi nô, đã có sự bất đồng rộng rãi về chiến thuật và mục tiêu.

Tuy nhiên, trải qua nhiều cuộc cải cách vẫn là những chủ đề và giả định chung, một trong những giả định quan trọng nhất là niềm tin nồng nhiệt rằng các cá nhân phải có khả năng hoạt động như những tác nhân đạo đức tự do, có khả năng lựa chọn đúng sai và không bị hạn chế bởi “ quyền lực độc đoán ”của người khác (như chủ nô hoặc người chồng vô đạo đức) hoặc thứ gì đó khác (như rượu, chế độ ăn uống tồi tệ hoặc bệnh tâm thần). Về khía cạnh đó, chủ nghĩa bãi nô là biểu hiện cuối cùng của xung lực cải cách thời kỳ trước: Nô lệ, đối với những người theo chủ nghĩa bãi nô, là hình ảnh phản chiếu của tự do, biểu tượng của những gì không phải - ví dụ cực đoan nhất của sự không tự do. Logic này giúp giải thích mối liên hệ chặt chẽ giữa những người theo chủ nghĩa bãi nô và những cải cách, chẳng hạn như phong trào đấu tranh vì quyền của phụ nữ, cũng như lý do tại sao những người theo chủ nghĩa bãi nô cảm thấy có mối quan hệ với các nhà cách mạng châu Âu và nỗ lực chấm dứt chế độ nông nô ở Nga. Tất cả những trường hợp như vậy, theo quan điểm của họ, là một phần của một vở kịch quốc tế lớn hơn về sự tiến bộ của tự do. Với truyền thống hùng biện mạnh mẽ này được áp dụng từ những năm 1840, không phải ngẫu nhiên mà thuật ngữ "nô lệ" vẫn tồn tại trong các luận điệu cải cách trong suốt thế kỷ 19, rất lâu sau khi chính thể chế này chết vào năm 1865 - những người say rượu như "nô lệ" cho cái chai, phụ nữ là " nô lệ ”cho nam giới, và công nhân nhà máy là“ nô lệ làm công ăn lương ”.

Bản thân những người theo chủ nghĩa bãi nô cũng mơ hồ về ý nghĩa của tự do trong thực tế sau cái chết của chế độ nô lệ, và không quan tâm đến việc những người khác có thể không đồng ý với định nghĩa của họ. Mặc dù vậy, sự nhấn mạnh của họ vào quyền tự quyết của cá nhân và việc sử dụng phép đối nghịch giữa chế độ nô lệ và tự do để xác định sự vắng mặt và hiện diện của tự do định vị họ trong tình chị em của Higginson. Nhưng ở ba khía cạnh quan trọng — trong quan điểm của họ về chính phủ, giới tính và chủng tộc — những người theo chủ nghĩa bãi nô đã chia tay công ty với những cải cách tình chị em khác. Một vài phong trào cải cách trước năm 1861 đã tạo ra các cuộc tấn công cơ bản vào hệ thống chính trị Hoa Kỳ, những người theo chủ nghĩa bãi nô đã lên tiếng tố cáo sự mặc cả của ma quỷ với chế độ nô lệ. Và mặc dù tất cả các cuộc cải cách lớn về tiền tiểu thuyết đều phụ thuộc rất nhiều vào phụ nữ, nhưng chỉ một số ít cộng đồng không tưởng có tiếng nói nổi bật đối với họ là chủ nghĩa bãi nô ở những hình thức cấp tiến nhất của nó.

Tuy nhiên, đặc biệt nhất là cách những người theo chủ nghĩa bãi nô định hình mối quan hệ giữa chống nô lệ và chủng tộc, sử dụng những ý tưởng và khái niệm vượt xa cuộc tấn công của phong trào chống nô lệ và cuối cùng đã trở thành cuộc tấn công vào luật pháp và thực tiễn phân biệt đối xử ở miền Bắc. Ngoài ra, phong trào theo chủ nghĩa bãi nô bất thường giữa các chủng tộc. Sự nổi tiếng của một số người theo chủ nghĩa bãi nô da đen — đặc biệt là Frederick Douglass, Sojourner Truth và Harriet Tubman — phần nào che khuất mức độ cao mà những người theo chủ nghĩa bãi nô người Mỹ gốc Phi ít được biết đến cũng ủng hộ chính nghĩa bằng mọi cách có thể, kể cả với các tổ chức, cây bút, bài phát biểu của riêng họ , và đô la. Nếu chủ nghĩa phân biệt chủng tộc không bao giờ hoàn toàn biến mất giữa những người theo chủ nghĩa bãi nô da trắng, và nếu quan hệ giữa họ và các đồng nghiệp da đen đôi khi căng thẳng, thì vẫn đúng là không có phong trào nào khác trong ngày gần với chủ nghĩa bãi nô trong sự hợp tác giữa các chủng tộc, trong việc vận động các cộng đồng da đen và thách thức phân biệt chủng tộc cả về lý thuyết và thực hành. Về những vấn đề đó, chủ nghĩa bãi nô vừa là một phần của nhóm cải cách chị em vừa là một phong trào vượt xa chúng.

Ronald Walters, Giáo sư Lịch sử tại Đại học John Hopkins, là tác giả của Lời kêu gọi chống chế độ nô lệ: Chủ nghĩa bãi bỏ của người Mỹ sau năm 1830 (1984) và biên tập viên của Mồi cho sự thận trọng: Lời khuyên tình dục cho người Mỹ thời Victoria (1973) A Black Woman’s Odyssey xuyên Nga và Jamaica: The Narrative of Nancy Prince (1989).


'Những nô lệ chết khiếp nhất trong ngày đầu năm mới': Lịch sử chết chóc của ngày 1 tháng 1

Người Mỹ có thể nghĩ về Giao thừa và Năm mới & # 8217s là thời điểm để kỷ niệm sự khởi đầu mới mẻ mà một năm mới thể hiện, nhưng cũng có một mặt đáng lo ngại đối với lịch sử của ngày lễ & # 8217s. Trong những năm trước Nội chiến, ngày đầu tiên của năm mới thường là một ngày đau lòng đối với những người bị nô lệ ở Hoa Kỳ.

Trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi, Ngày Tết & # 8217s từng được biết đến rộng rãi với tên & # 8220Hiring Day & # 8221 & mdash hoặc & # 8220Heartbreak Day, & # 8221 khi nhà báo theo chủ nghĩa bãi nô người Mỹ gốc Phi William Cooper Nell đã mô tả nó & mdash vì những người nô lệ đã trải qua đêm giao thừa & # 8217s để chờ đợi, tự hỏi liệu chủ nhân của chúng có định cho người khác thuê chúng hay không, do đó có khả năng chia rẽ gia đình của họ. Việc cho thuê lao động nô lệ là một hoạt động tương đối phổ biến ở miền Nam thời kỳ trước, và là một hoạt động mang lại lợi nhuận cho những người chủ và thuê nô lệ da trắng.

& # 8220 & # 8216Hiring Day & # 8217 là một phần của chu kỳ kinh tế lớn hơn, trong đó hầu hết các khoản nợ được thu và thanh toán vào Ngày Năm mới & # 8217s & # 8221, Alexis McCrossen, một chuyên gia về lịch sử của Năm Mới & # 8217s Giao thừa và Năm mới Năm & # 8217s Day và là giáo sư lịch sử tại Đại học Southern Methodist, người viết về Ngày tuyển dụng trong cuốn sách sắp xuất bản của cô ấy Time & rsquos Touchstone: Năm mới trong cuộc sống của người Mỹ.

Một số người bị bắt làm nô lệ đã được đưa ra đấu giá vào ngày hôm đó, hoặc được tổ chức theo hợp đồng bắt đầu từ tháng Giêng. (Các giao dịch này cũng diễn ra cả năm và các hợp đồng có thể kéo dài trong những khoảng thời gian khác nhau.) Các giao dịch này được thực hiện riêng tư giữa các gia đình, bạn bè và các mối quan hệ kinh doanh, và nô lệ được giao nộp tại quảng trường thị trấn, trên các bước của tòa án và đôi khi chỉ đơn giản là trên bên đường, theo Làm chủ phân chia: Nô lệ thuê ở miền Nam Hoa Kỳ của Jonathan D. Martin.

Những lời kể về sự tàn nhẫn của Ngày tuyển dụng đến từ hồ sơ của những người bảo đảm tự do để lại, những người đã mô tả rằng họ đã dành thời gian vào ngày trước ngày 1 tháng 1 để hy vọng và cầu nguyện rằng những người thuê họ sẽ nhân đạo và gia đình họ có thể ở bên nhau.

& # 8220Trong tất cả các ngày trong năm, nô lệ khiếp sợ Ngày Tết & # 8217 là ngày tồi tệ nhất trong số bất kỳ ngày nào, & # 8221, một nô lệ tên là Lewis Clarke cho biết trong một tài khoản năm 1842.

& # 8220Vào ngày Tết & # 8217s, chúng tôi đã đến khu đấu giá & # 8217s, để được thuê người trả giá cao nhất trong một năm, & # 8221 Israel Campbell đã viết trong một cuốn hồi ký xuất bản năm 1861 ở Philadelphia, trong đó anh ấy mô tả là được thuê ra ba lần.

& # 8220Điều đó & # 8217 là nơi mà câu nói đó & # 8217 bắt nguồn từ việc bạn làm gì vào Năm mới & # 8217s Ngày bạn & # 8217 sẽ làm & # 8217 trong suốt thời gian còn lại của năm, & # 8221 một cựu nô lệ được gọi là Sơ Harrison đã nói trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1937.

Harriet Jacobs đã viết một tài khoản đặc biệt chi tiết trong chương & # 8220Những người nô lệ & # 8217 Năm mới & # 8217s & # 8221 chương tự truyện năm 1861 của cô tôicác cư dân trong cuộc sống của một cô gái nô lệ. & # 8220Hiring-day ở phía nam diễn ra vào ngày 1 tháng 1. Vào ngày thứ 2 [n] ngày, các nô lệ được mong đợi sẽ đến với chủ nhân mới của họ, & # 8221, cô viết. Cô quan sát thấy các chủ nô lệ và nông dân cho thuê người của họ để kiếm thêm thu nhập trong khoảng thời gian giữa vụ thu hoạch bông và ngô và mùa trồng trọt tiếp theo. Từ Giáng sinh đến Năm mới & # 8217, nhiều gia đình sẽ lo lắng chờ đợi & # 8221; Vào ngày Tết & # 8217s, & # 8220Đến giờ đã định, khu đất chật cứng đàn ông, phụ nữ và trẻ em, chờ đợi, giống như những tên tội phạm để nghe họ bị tuyên bố diệt vong, & # 8221 Jacobs viết.

Vào một trong những ngày định mệnh này, Jacobs nhìn thấy & # 8220a một người mẹ dẫn bảy đứa con đến khu đấu giá. Cô biết rằng một số trong số chúng sẽ bị lấy đi từ cô nhưng chúng đã lấy đi tất cả. & # 8221 Người buôn bán nô lệ bắt trẻ em sẽ không & # 8217t cho cô biết anh ta sẽ đưa chúng đi đâu vì điều đó phụ thuộc vào nơi anh ta có thể nhận được & # 8220 giá cao nhất. & # 8221 Jacobs nói rằng cô ấy sẽ không bao giờ quên tiếng khóc của người mẹ, & # 8220Gone! Tất cả đi! Tại sao don & # 8217t Chúa giết tôi? & # 8221

Những người nô lệ cố gắng chống lại chủ mới của họ đã bị đánh đòn và tống vào tù cho đến khi họ hài lòng và hứa sẽ không bỏ trốn trong thời gian sắp xếp mới. Những nô lệ lớn tuổi cũng đặc biệt dễ bị tổn thương, như Jacobs mô tả một người chủ đang cố gắng thuê một phụ nữ khoảng 70 tuổi yếu ớt vì anh ta đang chuyển đi nơi khác.

Nhưng lịch sử của Ngày Năm Mới & # 8217s và chế độ nô lệ ở Mỹ không phải là tất cả đều kinh dị. Kỳ nghỉ cũng gắn liền với tự do.

Lệnh cấm liên bang về buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương có hiệu lực vào Ngày Năm mới & # 8217s năm 1808 và các cộng đồng người Mỹ gốc Phi đã tổ chức ăn mừng, nhưng lễ hội này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.

& # 8220 Các lễ kỷ niệm bãi bỏ buôn bán nô lệ khác nhau đã diễn ra từ năm 1808 đến năm 1831, nhưng chúng tàn lụi vì buôn bán nô lệ trong nước quá sôi động, & # 8221 McCrossen nói. Nguy cơ bạo lực cũng quá lớn. Ví dụ, vào đêm giao thừa năm mới & # 8217s năm 1827, tại Thành phố New York, một đám đông da trắng đã tấn công các giáo đoàn người Mỹ gốc Phi và phá hoại nhà thờ của họ.

Ngày lễ trở nên gắn liền với tự do hơn là chế độ nô lệ khi Abraham Lincoln ký Tuyên bố Giải phóng, giải phóng nô lệ ở các bang thuộc Liên minh miền Nam vào Ngày Năm mới & # 8217s vào năm 1863. Nô lệ đến nhà thờ để cầu nguyện và hát vào ngày 31 tháng 12 năm 1862 và đó & # 8217s tại sao vẫn có các dịch vụ cầu nguyện Đêm Giao thừa & # 8217s tại các nhà thờ của người Mỹ gốc Phi trên toàn quốc. Tại các dịch vụ & # 8220Watch Night & # 8221 như vậy, hơn 150 năm sau, các hội chúng tiếp tục cầu nguyện cho sự bình đẳng chủng tộc rộng rãi hơn.

Phiên bản gốc của câu chuyện này đã trình bày sai về năm xảy ra vụ tấn công vào một nhà thờ của người Mỹ gốc Phi vào năm mới & đêm giao thừa rsquos ở thành phố New York. Đó là năm 1827, không phải năm 1927.


12,2 Người Mỹ gốc Phi ở Antebellum Hoa Kỳ

Ngoài bông, mặt hàng tuyệt vời của Antebellum South là con người. Chế độ nô lệ là nền tảng của nền kinh tế miền Nam. Đến năm 1850, khoảng 3,2 triệu người nô lệ lao động ở Hoa Kỳ, 1,8 triệu người trong số họ làm việc trên các cánh đồng bông. Họ phải đối mặt với sự lạm dụng quyền lực tùy tiện từ người da trắng mà họ đối phó bằng cách tạo ra các mạng lưới gia đình và cộng đồng. Kể chuyện, bài hát và Cơ đốc giáo cũng mang lại niềm an ủi và cho phép những người bị bắt làm nô lệ phát triển cách giải thích của riêng họ về tình trạng của họ.

SỐNG NHƯ TRƯỢT

Người da trắng miền Nam thường dựa vào ý tưởng về chủ nghĩa gia đình — tiền đề rằng các chủ nô Da trắng hành động vì lợi ích tốt nhất của những người mà họ bắt làm nô lệ, chịu trách nhiệm về việc chăm sóc, cho ăn, kỷ luật và thậm chí cả đạo đức Cơ đốc của họ — để biện minh cho sự tồn tại của chế độ nô lệ. Điều này đã xuyên tạc một cách thô thiển thực tế của chế độ nô lệ, dù bằng bất kỳ hình thức nào, cũng là một thảm họa nhân đạo, gây tổn thương và kinh hoàng cho con người và tội ác chống lại loài người. Nevertheless, the enslaved were hardly passive victims of their conditions they sought and found myriad ways to resist their shackles and develop their own communities and cultures.

Enslaved people often used the notion of paternalism to their advantage, finding opportunities within this system to engage in acts of resistance and win a degree of freedom and autonomy. For example, some played into their masters’ racism by hiding their intelligence and feigning childishness and ignorance. The enslaved could then slow down the workday and sabotage the system in small ways by “accidentally” breaking tools, for example the slaveholder, seeing the enslaved as unsophisticated and childlike, would believe these incidents were accidents rather than rebellions. Some enslaved individuals engaged in more dramatic forms of resistance, such as poisoning their captors slowly. Other enslaved people reported their fellow captives to their slaveholders, hoping to gain preferential treatment. Those who informed their holders about planned slave rebellions could often expect the slaveholder’s gratitude and, perhaps, more lenient treatment. Such expectations were always tempered by the individual personality and caprice of the slaveholder.

Slaveholders used both psychological coercion and physical violence to prevent enslaved people from disobeying their wishes. Often, the most efficient way to discipline people was to threaten to sell them. The lash, while the most common form of punishment, was effective but not efficient whippings sometimes left the victimes incapacitated or even dead. Slaveholders and overseers also used punishment gear like neck braces, balls and chains, leg irons, and paddles with holes to produce blood blisters. The enslaved lived in constant terror of both physical violence and separation from family and friends (Figure 12.6).

Under southern law, enslaved people could not marry. Nonetheless, some slaveholders allowed marriages to promote the birth of children and to foster harmony on plantations. Some slaveholders even forced certain individuals to form unions, anticipating the birth of more children (and consequently greater profits) from them. Slaveholders sometimes allowed enslaved people to choose their own partners, but they could also veto a match. Enslaved couples always faced the prospect of being sold away from each other, and, once they had children, the horrifying reality that their children could be sold and sent away at any time.

Click and Explore

Browse a collection of first-hand narratives of enslaved and former enslaved people at the National Humanities Center to learn more about the experience of slavery.

Enslaved parents had to show their children the best way to survive under slavery. This meant teaching them to be discreet, submissive, and guarded around White people. Parents also taught their children through the stories they told. Popular stories among the enslaved included tales of tricksters, sly captives, or animals like Brer Rabbit, who outwitted their antagonists (Figure 12.7). Such stories provided comfort in humor and conveyed the sense of the wrongs of slavery. Enslaved people’s work songs commented on the harshness of their life and often had double meanings—a literal meaning that White people would not find offensive and a deeper meaning for the enslaved.

African beliefs, including ideas about the spiritual world and the importance of African healers, survived in the South as well. White people who became aware of non-Christian rituals among the enslaved labeled such practices as witchcraft. Among Africans, however, the rituals and use of various plants by respected enslaved healers created connections between the African past and the American South while also providing a sense of community and identity for enslaved individuals. Other African customs, including traditional naming patterns, the making of baskets, and the cultivation of certain native African plants that had been brought to the New World, also endured.

Americana

African Americans and Christian Spirituals

Many of the enslaved embraced Christianity. Their holders emphasized a scriptural message of obedience to White people and a better day awaiting them in heaven, but enslaved people focused on the uplifting message of being freed from bondage.

The styles of worship in the Methodist and Baptist churches, which emphasized emotional responses to scripture, attracted the enslaved to those traditions and inspired some to become preachers. Spiritual songs that referenced the Exodus (the biblical account of the Hebrews’ escape from slavery in Egypt), such as “Roll, Jordan, Roll,” allowed enslaved individuals to freely express messages of hope, struggle, and overcoming adversity (Figure 12.8).

What imagery might the Jordan River suggest to enslaved people working in the Deep South? What lyrics in this song suggest redemption and a better world ahead?

Click and Explore

Listen to a rendition of “Roll, Jordan, Roll” from the movie based on Solomon Northup’s memoir and life.

THE FREE BLACK POPULATION

Complicating the picture of the antebellum South was the existence of a large free Black population. In fact, more free Black people lived in the South than in the North roughly 261,000 lived in slave states, while 226,000 lived in northern states without slavery. Most free Black people did not live in the Lower, or Deep South: the states of Alabama, Arkansas, Florida, Georgia, Louisiana, Mississippi, South Carolina, and Texas. Instead, the largest number lived in the upper southern states of Delaware, Maryland, Virginia, North Carolina, and later Kentucky, Missouri, Tennessee, and the District of Columbia.

Part of the reason for the large number of free Black people living in slave states were the many instances of manumission—the formal granting of freedom to enslaved people—that occurred as a result of the Revolution, when many slaveholders put into action the ideal that “all men are created equal” and released the people they enslaved. The transition in the Upper South to the staple crop of wheat, which did not require large numbers of enslaved laborers to produce, also spurred manumissions. Another large group of free Black people in the South had been free residents of Louisiana before the 1803 Louisiana Purchase, while still other free Black people came from Cuba and Haiti.

Most free Black people in the South lived in cities, and a majority of free Black people were lighter-skinned women, a reflection of the interracial unions that formed between White men and Black women. Everywhere in the United States Blackness had come to be associated with slavery, the station at the bottom of the social ladder. Both Whites and those with African ancestry tended to delineate varying degrees of lightness in skin color in a social hierarchy. In the slaveholding South, different names described one’s distance from Blackness or Whiteness: mulattos (those with one Black and one White parent), quadroons (those with one Black grandparent), and octoroons (those with one Black great-grandparent) (Figure 12.9). Lighter-skinned Black people often looked down on their darker counterparts, an indication of the ways in which both White and Black people internalized the racism of the age.

Some free Black people in the South owned enslaved people themselves. Andrew Durnford, for example, was born in New Orleans in 1800, three years before the Louisiana Purchase. His father was White, and his mother was a free Black. Durnford became an American citizen after the Louisiana Purchase, rising to prominence as a Louisiana sugar planter and slaveholder. William Ellison, another free Black person who amassed great wealth and power in the South, was born with a slave status in 1790 in South Carolina. After buying his freedom and that of his wife and daughter, he proceeded to purchase his own enslaved people, whom he then put to work manufacturing cotton gins. By the eve of the Civil War, Ellison had become one of the richest and largest slaveholders in the entire state.

The phenomenon of free Black people amassing large fortunes within a slave society predicated on racial difference, however, was exceedingly rare. Most free Black people in the South lived under the specter of slavery and faced many obstacles. Beginning in the early nineteenth century, southern states increasingly made manumission illegal. They also devised laws that divested free Blacks of their rights, such as the right to testify against Whites in court or the right to seek employment where they pleased. Interestingly, it was in the upper southern states that such laws were the harshest. In Virginia, for example, legislators made efforts to require free Black people to leave the state. In parts of the Deep South, free Black people were able to maintain their rights more easily. The difference in treatment between free Black people in the Deep South and those in the Upper South, historians have surmised, came down to economics. In the Deep South, slavery as an institution was strong and profitable. In the Upper South, the opposite was true. The anxiety of this economic uncertainty manifested in the form of harsh laws that targeted free Black people.

SLAVE REVOLTS

Captives resisted their enslavement in small ways every day, but this resistance did not usually translate into mass uprisings. The enslaved understood that the chances of ending slavery through rebellion were slim and would likely result in massive retaliation many also feared the risk that participating in such actions would pose to themselves and their families. White slaveholders, however, constantly feared uprisings and took drastic steps, including torture and mutilation, whenever they believed that rebellions might be simmering. Gripped by the fear of insurrection, Whites often imagined revolts to be in the works even when no uprising actually happened.

At least two major slave uprisings did occur in the antebellum South. In 1811, a major rebellion broke out in the sugar parishes of the booming territory of Louisiana. Inspired by the successful overthrow of the White planter class in Haiti, a group of people enslaved in Louisiana took up arms against slaveholders. Perhaps as many five hundred joined the rebellion, led by Charles Deslondes, a mixed-race slave driver on a sugar plantation owned by Manuel Andry.

The revolt began in January 1811 on Andry’s plantation. Deslondes and others attacked the Andry household, where they killed the slaveholder’s son (although Andry himself escaped). The rebels then began traveling toward New Orleans, armed with weapons gathered at Andry’s plantation. Whites mobilized to stop the rebellion, but not before Deslondes and the other enslaved people set fire to three plantations and killed numerous White people. A small White force led by Andry ultimately captured Deslondes, whose body was mutilated and burned following his execution. Other rebels were beheaded, and their heads placed on pikes along the Mississippi River.

The second rebellion, led by the enslaved Nat Turner, occurred in 1831 in Southampton County, Virginia. Turner had suffered not only from personal enslavement, but also from the additional trauma of having his wife sold away from him. Bolstered by Christianity, Turner became convinced that like Christ, he should lay down his life to end slavery. Mustering his relatives and friends, he began the rebellion August 22, killing scores of White people in the county. Whites mobilized quickly and within forty-eight hours had brought the rebellion to an end. Shocked by Nat Turner’s Rebellion, Virginia’s state legislature considered ending slavery in the state in order to provide greater security. In the end, legislators decided slavery would remain and that their state would continue to play a key role in the domestic slave trade.

SLAVE MARKETS

As discussed above, after centuries of slave trade with West Africa, Congress banned the further importation of enslaved Africans beginning in 1808. The domestic slave trade then expanded rapidly. As the cotton trade grew in size and importance, so did the domestic slave trade the cultivation of cotton gave new life and importance to slavery, increasing the value of enslaved individuals. To meet the South’s fierce demand for labor, American smugglers illegally transferred captives through Florida and later through Texas. Many more enslaved Africans arrived illegally from Cuba indeed, Cubans relied on the smuggling of enslaved people to prop up their finances. The largest number of enslaved people after 1808, however, came from the massive, legal internal slave market in which slave states in the Upper South sold enslaved men, women, and children to states in the Lower South. For the enslaved, the domestic trade presented the full horrors of slavery as children were ripped from their mothers and fathers and families destroyed, creating heartbreak and alienation.

Some slaveholders sought to increase the number of enslaved children by placing enslaved males with fertile enslaved females, and slaveholders routinely raped enslaved females. The resulting births played an important role in slavery’s expansion in the first half of the nineteenth century, as many enslaved children were born as a result of rape. One account written by an enslaved person named William J. Anderson captures the horror of sexual exploitation in the antebellum South. Anderson wrote about how a Mississippi slaveholder

divested a poor female slave of all wearing apparel, tied her down to stakes, and whipped her with a handsaw until he broke it over her naked body. In process of time he ravished [raped] her person, and became the father of a child by her. Besides, he always kept a colored Miss in the house with him. This is another curse of Slavery—concubinage and illegitimate connections—which is carried on to an alarming extent in the far South. A poor slave man who lives close by his wife, is permitted to visit her but very seldom, and other men, both White and colored, cohabit with her. It is undoubtedly the worst place of incest and bigamy in the world. A White man thinks nothing of putting a colored man out to carry the fore row [front row in field work], and carry on the same sport with the colored man’s wife at the same time.

Anderson, a devout Christian, recognized and explains in his narrative that one of the evils of slavery is the way it undermines the family. Anderson was not the only critic of slavery to emphasize this point. Frederick Douglass, a Maryland slave who escaped to the North in 1838, elaborated on this dimension of slavery in his 1845 narrative. He recounted how enslavers had to sell their own children whom they had with enslaved women to appease the White wives who despised their offspring.

The selling of enslaved people was a major business enterprise in the antebellum South, representing a key part of the economy. White men invested substantial sums in enslaved people, carefully calculating the annual returns they could expect from each enslaved person as well as the possibility of greater profits through natural increase. The domestic slave trade was highly visible, and like the infamous Middle Passage that brought captive Africans to the Americas, it constituted an equally disruptive and horrifying journey now called the second middle passage . Between 1820 and 1860, White American traders sold a million or more captives in the domestic slave market. Groups of enslaved people were transported by ship from places like Virginia, a state that specialized in raising enslaved people for sale, to New Orleans, where they were sold to planters in the Mississippi Valley. Others made the overland trek from older states like North Carolina to new and booming Deep South states like Alabama.

New Orleans had the largest slave market in the United States (Figure 12.10). Slaveholders brought the people they enslaved there from the East (Virginia, Maryland, and the Carolinas) and the West (Tennessee and Kentucky) to be sold for work in the Mississippi Valley. The slave trade benefited Whites in the Chesapeake and Carolinas, providing them with extra income: A healthy young enslaved male in the 1850s could be sold for $1,000 (approximately $30,000 in 2014 dollars), and a planter who could sell ten such enslaved people collected a windfall.

In fact, by the 1850s, the demand for enslaved people reached an all-time high, and prices therefore doubled. An enslaved person who would have sold for $400 in the 1820s could command a price of $800 in the 1850s. The high price of enslaved people in the 1850s and the inability of natural increase to satisfy demands led some southerners to demand the reopening of the international slave trade, a movement that caused a rift between the Upper South and the Lower South. White people in the Upper South who sold enslaved people to their counterparts in the Lower South worried that reopening the trade would lower prices and therefore hurt their profits.

Câu chuyện của tôi

John Brown on Slave Life in Georgia

An enslaved person named John Brown lived in Virginia, North Carolina, and Georgia before he escaped and moved to England. While there, he dictated his autobiography to someone at the British and Foreign Anti-Slavery Society, who published it in 1855.

I really thought my mother would have died of grief at being obliged to leave her two children, her mother, and her relations behind. But it was of no use lamenting, the few things we had were put together that night, and we completed our preparations for being parted for life by kissing one another over and over again, and saying good bye till some of us little ones fell asleep. . . . And here I may as well tell what kind of man our new master was. He was of small stature, and thin, but very strong. He had sandy hair, a very red face, and chewed tobacco. His countenance had a very cruel expression, and his disposition was a match for it. He was, indeed, a very bad man, and used to flog us dreadfully. He would make his slaves work on one meal a day, until quite night, and after supper, set them to burn brush or spin cotton. We worked from four in the morning till twelve before we broke our fast, and from that time till eleven or twelve at night . . . we labored eighteen hours a day.
—John Brown, Slave Life in Georgia: A Narrative of the Life, Sufferings, and Escape of John Brown, A Fugitive Slave, Now in England, 1855

What features of the domestic slave trade does Brown’s narrative illuminate? Why do you think he brought his story to an antislavery society? How do you think people responded to this narrative?

Click and Explore

Read through several narratives at “Born in Slavery,” part of the American Memory collection at the Library of Congress. Do these narratives have anything in common? What differences can you find between them?


Early American Political Parties

Iowa political parties, like those in other American states, respond to changes that are important to voters at the time of elections. Economic interests like taxes are always important, but sometimes moral or cultural issues like prohibition or bodily autonomy can also capture attention.The American federal system that links states to the national government also plays an important role in fostering the creation and continuation of the political party system.

Whigs and Democrats in Iowa

Before the Civil War, in Iowa's territorial and early statehood days, there were two dominant political parties: the Whigs and the Democrats. The Whigs tended to favor a more active government role in the promotion of business and economic development (building roads, promoting commerce and manufacturing, stronger currency) while Democrats favored the smallest government possible with lower taxes. However, both parties experienced internal divisions as the interests of eastern states and western states differed, and especially with growing tensions between the North and South over slavery.

In 1854, Congress passed the Kansas-Nebraska Act that allowed the settlers in western territories to decide themselves whether they would be a slave or free state. This ended the provision of the Missouri Compromise that extended the line along the Missouri-Arkansas border as the western division between slave and free territories in the West. This opened the possibility of more slave territory and was strongly opposed by many in the North of both parties. Opponents of the new law in both parties broke ranks to form first the Free-Soil Party which quickly became the Republican Party. While the Democrats continued to hold support in both North and South, the Republican Party was based almost entirely in the North, including Iowa. The Civil War cemented Iowa's loyalty to the Republican Party that continued to produce election victories at the polls until the Great Depression in the 1930s. Following World War II, Democrats began gaining strength in the cities. Today, Iowa is a two-party state and has swung both ways in recent presidential elections.

Issue-Based Party Formation

While third parties have sometimes appeared on the Iowa ballot, none has earned a significant permanent place in the political landscape. In the 1870s and 1880s, tough economic conditions for Iowa farmers led to the formation of the Populist and Greenback Parties, which encouraged the regulation of railroads, corporations and other business interests thought to be practicing unfair policies toward farmers. They also wanted more money in circulation to make borrowing and repaying interest easier. The Prohibition Party focused narrowly on efforts to eliminate the sale of alcohol, but it competed for voters with the Republicans. In 1912, supporters of Teddy Roosevelt backed him in a race against the incumbent President William Howard Taft. This split the Republican vote and allowed the Democrat Woodrow Wilson to win the White House.

In early days, candidates were nominated by political conventions. Those who had influence within the party structure played the key roles in candidate selection. In the early 1900s, Iowa amended the constitution to select candidates by direct primaries where registered voters in the party held primary elections to name the candidates. A popular candidate could gain the nomination without the support of party leaders, though this rarely happened. In 1976, the Iowa caucuses moved front and center of the national stage as the first step in the presidential nominating process. Every four years, those testing the waters for a shot at the presidency come to Iowa, providing opportunities for local voters to meet personally with top national leaders. Local politicians may step in to support one candidate or another or may keep on the sidelines so they do not offend Iowa voters or other persuasions. Regardless, national politics becomes Iowa politics every four years.

Parties are loose coalitions of citizens who rally around candidates who best promote their interests. Today, more Iowans register as "no-party" or independent than either Republican or Democrat. Among active party voters as of July 2019, registered Democrats hold a slight lead over Republicans. Republicans hold margins in the rural areas, while Democrats have urban majorities.


Native Americans in the Antebellum U.S. Military

Mentioning the U.S. military and American Indians together often brings to mind fierce and heart-wrenching battles between white soldiers and native warriors. But is this the whole picture? A review of selected records for soldiers who served during the Indian wars and disturbances from 1815 to 1858 shows that hundreds of Indians served in the military against their fellow Native Americans. In addition to serving in these wars, Native Americans served during the Revolutionary War and throughout the 19th century, almost exclusively in all-Indian units.

One Native American unit appears among the military records of the soldiers who served in the Revolutionary War. The "Pay Roll of the Delaware Indians in service of the United States, Commencing June 15th 1780 & ending Oct. 31, 1781" lists 12 soldiers: 4 captains and 8 privates.1 The names, except for Capt. John Montour, the company commander, appear to be in the Delaware language. For example, Captain Mawanapano is the second soldier listed after Captain Montour.

Compiled military service records are also available for these soldiers.2 The War Department abstracted a volunteer soldier's service onto cards from such records as muster returns and payrolls. The cards were placed in an envelope with the soldier's name on it.

Between the Revolutionary War and the War of 1812, one Native American unit served with federal forces. Capt. Will Shorey commanded the Corps of Cherokee Indians, who were in service from May 12 to September 12, 1800. On March 7, 1800, the secretary of war ordered the unit to be formed. Its mission was to punish offenders in the Cherokee Nation. The unit's Records of Events cards do not specify the offenses.3

More than 1,000 Native Americans served during the War of 1812. They were organized in more than 100 companies, detachments, or parties. About half were Choctaws, and half were either Creeks or Cherokees. Units from other tribes included Blue's Detachment of Chickasaw Indians (discussed below), Capt. Wape Pilesey's Company of Mounted Shawano Indians, and Capt. Abner W. Hendrick's Detachment of Stockbridge Indians.

Native American soldiers are listed in the Index to Compiled Service Records of Volunteer Soldiers Who Served During the War of 1812 (National Archives Microfilm Publication M602). The compiled service records for only two Native American units have been microfilmed: Major Uriah Blue's Detachment of Chickasaw Indians (M1829) and Major McIntosh's Company of Creek Indians (M1830). Both Blue's Detachment and McIntosh's Company served under Andrew Jackson in the Creek Indian War of 1813–1814, sometimes considered a part of the War of 1812.

Researchers should keep in mind the potential variations of Native American names. A selected review of the index and a review of the compiled service records for two War of 1812 units indicates that the majority of Native American soldiers retained their Indian-language name. In Blue's Detachment, for example, Corporal Tush wa tubbee and Private Ush o ma tubbee appear on a muster roll dated February 28, 1815, at Mobile. Other names appear to be the English translation of the Indian name, such as Private Wait & Kill it, who also appeared on the February 28 muster roll. When a common English name is listed in the index, often only a single English name appears. Four Private Georges and a Sergeant George were listed as part of Colonel Morgan, Jr.'s Regiment of Cherokee Indians, and two Private Jims were part of Col. Thomas Gales's Indian Corps.

Native Americans served in a majority of the Indian wars that took place from 1815 to 1858. Choctaw and Creek Indians served in the First Seminole War, 1817–1818, and the Second Florida or Seminole War, 1836–1842. During the Winnebago Indian Disturbance in 1827, a company of Menominee served. Menominee and Potawatomi served during the Black Hawk War in 1832. Creek Indians friendly to the U.S. government opposed their fellow Creeks during the Creek War in 1836. These Native American soldiers are listed in the Index to Compiled Service Records of Volunteer Soldiers Who Served During the Indian Wars and Disturbances, 1815–1858 (M629).

Captain Smith's Company of Menamenie (Menominee) Indians served in 1827 during the Winnebago Indian Disturbances. The compiled service records for this unit list 125 men, nearly all designated with the rank of "warrior."4 There was also a "1st Chief," "War Chief," and two "Chiefs." All names appear to be in the Indian language, and many have the English translation. Warrior Eyam-e-taw's name, for example, translates to "The raw deer skin." A few muster roll cards show familial relationships among the soldiers.

Capt. Stephen Richards's Company of Friendly Indians made up part of the Florida Mounted Volunteers, which served in 1838 during the Second Seminole War. The compiled service records of volunteers who served in Florida units during the Florida Indian wars, 1835–1858, including Captain Richards's Company, have been microfilmed.5 No rank is noted for the men, although Tot-tour-Hargo is listed as "Capt. Billy." A few names, such as Madison and Isaac Yellowhair, are not in the Indian language.

One company of Native Americans served in the Mexican War, 1846–1848. Black Beaver's Spy Company was a mounted volunteer company of Indians from Texas. The compiled service records for all Texas units, including Beaver's Spy Company, are on microfilm.6 The members of the company mustered in for duty in San Antonio in June 1846 for six months. The names of privates Na-noon-ska-ska, Long Tail, and George Williams, show the mix of the Indian language, English translation of the Indian name, and an English name.

Immediately following the Mexican War, a company of Pueblo Indians served with the New Mexico Volunteers. Under the command of Bvt. Lt. Col. J. M. Washington, the Pueblos participated in an expedition against Navajos from August 22 to September 22, 1849. Nearly all the Indian names in the company's service records are Spanish, such as Juan Domingo, Salvador Andres, Francisco Garcia, and Lorenzo Duran, suggesting that many of the Pueblos assimilated themselves into the local Mexican culture. One possibly native Pueblo name, Topan, also appears.

Many Native American soldiers, their widows, or dependents applied for bounty land warrants or pensions, sometimes both, following the soldiers' service. Native Americans became eligible to apply for bounty land by an act of Congress dated March 3, 1855, that granted bounty lands to certain officers and soldiers who had been engaged in military service. Section 7 of this act extended all bounty land laws to "Indians, in the same manner, and to the same extent, as if the said Indians had been white men." Native Americans also applied for pensions under general statutes directed at all veterans of a conflict, such as "An Act granting Pensions to certain Soldiers and Sailors of the War of 1812, and the Widows of deceased Soldiers" passed on February 14, 1871.

Among the records of the Bureau of Indian Affairs is a unique resource for identifying Native Americans who received bounty land warrants. The bureau required its agents to take steps to protect Indians from being swindled by unscrupulous people during the bounty land application process. One step was to keep a register of the issuance and transfer, if applicable, of the warrant. The name of each soldier, widow, or dependent was entered alphabetically by the first letter of the surname, along with the age and tribe of the applicant, the war, service dates, and the soldier's commanding officer. The remaining 12 columns provide information on the issuance and disposition of the warrant. This information usually is sufficient to request the bounty land warrant file at the National Archives. An index to about half the applicants listed in the registers was prepared.7

To locate the bounty land warrant files, you will need to know the warrant number, the number of acres received, and the year of the relevant bounty land law. The previously cited 1855 bounty land law is the law that authorized Native Americans to apply. The warrant number and usually the number of acres can be found in the Bureau of Indian Affairs registers and sometimes in a pension application file. A bounty land warrant file normally contains the bounty land certificate and the transfer of ownership document. Tunneempoya, for example, a warrior in Captain Mushoolatubbee's Company of Choctaw Volunteers during the War of 1812, received 160 acres on March 18,1857. On January 1, 1858, he sold his warrant for $128 to James L. Woodward of New York, who on April 24, 1858, sold it to Carlos Hall of Douglas County, Kansas.8

Native Americans who applied for pensions based upon War of 1812 service are listed in the Index to War of 1812 Pension Application Files (M313). A review of three of the 102 rolls of this index identified five Native American applicants. The documents and information found therein are typical of what might be found in any pension file. Daniel Two Guns, for example, although unsuccessful in his numerous attempts at obtaining a pension, provided much information about himself on his applications. Rachel Two Guns, widow of Henry Two Guns who was possibly a brother of Daniel, provided important genealogical data, such as her maiden name and tribe, in her unsuccessful application.

Two acts of Congress approved on July 27, 1892, and June 27, 1902, authorized pensions for soldiers or their widows for service in the Indian wars and disturbances. A review of portions of two of the 12 microfilm rolls of the Index to Indian War Pension Files, 1892–1926 (T318) located two Native Americans who applied under the provisions of these acts. The two pension files contained documents similar to those in any Indian war pension file. Ninety-five-year-old Kawashca Ash-Pah yean used the "Declaration of Survivor of Indian War" form to apply for his pension, and Pauline Kash-Kosh-Ka, widow of Mitchel Kash-Kosh-Ka, used the "Claim of Widow for Service Pension of Indian Wars" form for her application. In both cases, however, pensions were not approved because the claims of service in the Black Hawk War could not be verified.

Soldiers who served in the Mexican War could apply for a pension under the provisions of the pension act of January 29, 1887. They are listed in the Index to Mexican War Pension Files, 1887–1926 (T317). A spot-check of 2 of the 14 rolls of this series, and a check for a dozen soldiers who claimed to have served, located one Native American applicant. John Beaver was a Delaware Indian in Black Beaver's Spy Company, but his claim of service could not be verified.

The records described in this article are the primary sources to document the service of Native Americans in the military prior to the Civil War. Historians can use the records to describe the contributions of Native Americans, and genealogists can learn about the service of individual soldiers of interest to them. Pension applications are often rich in genealogical data that may not be available anywhere else. The warrant registers created by the Bureau of Indian Affairs are a unique resource of information about Native Americans who applied for bounty land.

James P. Collins is a volunteer staff aide at the National Archives and Records Administration, Washington, D.C. He has worked on a variety of genealogy-related projects since 1996. He wishes to thank three National Archives staff members for their help with this article: John Deeben, Constance Potter, and Rebecca Sharp.

1. Revolutionary War Rolls, 1775–1783 (National Archives Microfilm Publication M246, roll 129), War Department Collection of Revolutionary War Records, Record Group (RG) 93.

2. Compiled Service Records of Soldiers Who Served in the American Army During the Revolutionary War (National Archives Microfilm Publication M881, roll 146), RG 93.

3. Compiled Service Records of Volunteer Soldiers Who Served From 1784 to 1811 (National Archives Microfilm Publication M905, roll 6), Records of the Adjutant General's Office, 1780's–1917, RG 94. The Cherokee Indians who served under Capt. Will Shorey are listed in the Index to Compiled Service Records of Volunteer Soldiers Who Served From 1784–1811 (National Archives Microfilm Publication M694), RG 94.

4. Compiled Military Service Records of Michigan and Illinois Volunteers Who Served During the Winnebago Indian Disturbances of 1827 (National Archives Microfilm Publication M1505, roll 3), RG 94.

5. Compiled Service Records of Volunteer Soldiers Who Served in Organizations From the State of Florida During the Florida Indian Wars, 1835–1858 (National Archives Microfilm Publication M1086, roll 46), RG 94.

6. Compiled Service Records of Volunteer Soldiers Who Served During the Mexican War in Organizations From the State of Texas (National Archives Microfilm Publication M278, roll 16), RG 94. The members of the company are listed in the Index to Compiled Service Records of Volunteer Soldiers Who Served during the Mexican War (National Archives Microfilm Publication M616), RG 94.

7. Entry 544 (Index to Abstract List of Indian Applicants for Military Bounty Lands, 1855–75), and Entry 545 (Abstract List of Indian Applicants for Military Bounty Lands, 1855–82), Records of Bureau of Indian Affairs, RG 75, National Archives Building (NAB), Washington, DC.

8. Bounty Land Warrant file 59,272-160-1855 for Tunneempoya, Records of the Department of Veterans Affairs, RG 15, NAB.


Xem video: . History. Slavery in Antebellum America (Tháng MườI MộT 2021).