Lịch sử Podcast

Bush trong cuộc xâm lược Kuwait của Iraq

Bush trong cuộc xâm lược Kuwait của Iraq


We are searching data for your request:

Forums and discussions:
Manuals and reference books:
Data from registers:
Wait the end of the search in all databases.
Upon completion, a link will appear to access the found materials.

Trong một tường thuật trực tiếp từ Phòng Bầu dục, Tổng thống George H.W. Quân đội đã được gửi đến quốc gia Ả Rập để ngăn chặn sự xâm lược của Iraq sau cuộc xâm lược Kuwait của Iraq vào ngày 2 tháng 8 năm 1990.


Chủ nghĩa đế quốc: Lịch sử quan trọng về cuộc chiến Iraq của George H. W. Bush

Các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ đã không ngại ngùng khi bôi nhọ cố Tổng thống George H. W. Bush trong những phản ánh của họ về cuộc đời và di sản của ông. Hành vi này hầu như không gây ngạc nhiên khi chúng ta thấy sự tôn thờ tương tự đối với cố Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa John McCain thông qua việc xóa bỏ bất kỳ cuộc thảo luận nào về tội ác chiến tranh của Hoa Kỳ và bạo lực diệt chủng ở Việt Nam, ủng hộ câu chuyện có thể dự đoán được “anh hùng chiến tranh”.

Trên CNN, Aaron David Miller của Trung tâm Học giả Quốc tế Woodrow Wilson ca ngợi "sự khiêm tốn tuyệt đối" và "sự lịch thiệp" của Tổng thống Bush trưởng thành, trong khi Bưu điện Washington nhấn mạnh “bàn tay vững vàng” của ông vào thời điểm Chiến tranh Lạnh kết thúc, vào thời điểm Liên Xô sụp đổ. Các Thời báo New Yorktôn sùng Bush như một "nhà lãnh đạo kiềm chế và dày dạn kinh nghiệm", trong khi kỷ niệm cuộc tấn công năm 1991 của Hoa Kỳ vào Iraq. “Nếu nhiệm kỳ của ông Bush giúp khép lại một kỷ nguyên ở nước ngoài [Chiến tranh Lạnh], thì nó lại mở ra một kỷ nguyên khác. Vào tháng 1 năm 1991, ông đã tập hợp một liên minh toàn cầu để đánh đuổi quân xâm lược Iraq khỏi Kuwait, gửi hàng trăm nghìn quân tham gia một chiến dịch quân sự chiến thắng mà nhiều người đã giúp thanh trừng những bóng ma của Việt Nam. ”

Chân dung các nguyên thủ quốc gia quá cố và các nhà lãnh đạo nổi tiếng khác của Mỹ thường miêu tả họ là những người yêu nước yêu tự do, những người đã hy sinh vì lợi ích quốc gia của họ và trong cuộc đấu tranh cho tự do, công lý và dân chủ ở nước ngoài. Đối với những người có nhận thức quan trọng về thời Bush trưởng lão tại vị, câu chuyện này có giá trị nhỏ để bảo vệ. Bush đã thể hiện một cam kết trơ trẽn trong việc thực hiện chính quyền và nâng cao sức mạnh của đế quốc Mỹ, đặc biệt là trong chính sách của Mỹ ở Trung Đông. Nhưng sự thật bất tiện này chỉ đơn giản là "sẽ không xảy ra" trong một hệ thống truyền thông cộng tác nơi các nhà báo tôn thờ những huyền thoại về Hoa Kỳ như người bảo vệ và vị cứu tinh toàn cầu.

Những gì tiếp theo là một sự điều chỉnh rất cần thiết đối với các chữ viết sau khi các nguyên thủ Hoa Kỳ qua đời. Chính quyền của Bush, đặc biệt là qua cuộc chiến tranh Iraq năm 1991, đã theo đuổi một trong những chiến dịch tuyên truyền trắng trợn và thiếu trung thực nhất trong lịch sử hiện đại. Vay mượn từ Chomsky và Herman, thành công của chiến dịch này nói lên tính hiệu quả của những nỗ lực chính thức và báo chí nhằm “tạo ra sự đồng ý” trong việc bán chiến tranh đế quốc Hoa Kỳ.

Cuộc xâm lược Kuwait: Sự khởi đầu của Chiến dịch Tuyên truyền Hoa Kỳ

Với Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, Tổng thống George H. W. Bush đã sử dụng tuyên truyền trên nhiều mặt để xây dựng sự ủng hộ cho chiến tranh. Sau khi nhà độc tài Iraq Saddam Hussein xâm lược Kuwait láng giềng vào tháng 8 năm 1990, chính quyền Bush đã nhanh chóng bắt tay vào việc miêu tả Hussein như một mối đe dọa và mối đe dọa toàn cầu. Cả Iraq và Kuwait đều giàu dầu mỏ, khiến người Mỹ lo ngại về tham vọng bành trướng của Hussein ở một khu vực trên thế giới nắm giữ 1/4 trữ lượng dầu đã biết.

Hussein có một lịch sử về chính sách đối ngoại hiếu chiến. Anh ta xâm lược Iran và chiến đấu từ năm 1980 đến năm 1988 - với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ - kết thúc trong một bế tắc đẫm máu. Nhiều ước tính khác nhau cho thấy cuộc chiến đã gây ra từ hàng trăm nghìn đến một triệu người chết cho cả hai bên. Động cơ tấn công Iran của Hussein xuất phát từ tranh chấp biên giới, bên cạnh lo ngại rằng cuộc cách mạng Iran (1979) sẽ thúc đẩy chính công dân Iraq (đa số người Shia) nổi dậy chống lại chế độ độc tài của Saddam. Sau khi chiến tranh Iran-Iraq kết thúc, Hussein chuyển sự chú ý sang Kuwait, liệt kê nhiều bất bình chống lại gia đình hoàng gia cầm quyền của họ. Trong số đó có: cáo buộc Kuwait khoan nghiêng vào mỏ dầu Rumaila phía nam Iraq, cáo buộc Kuwait sử dụng dầu để tràn ngập thị trường quốc tế, do đó khiến giá dầu toàn cầu giảm, tức giận rằng Kuwait đang đòi trả khoản vay 80 tỷ USD. tài trợ cho cuộc chiến tranh Iran-Iraq, và tuyên bố rằng biên giới giữa Iraq và Kuwait là do các cường quốc thuộc địa vẽ ra một cách giả tạo, và việc thống nhất Iraq và Kuwait dưới thời Hussein là cần thiết để thống nhất Ả Rập. Không có lý do nào trong số những lý do này thuyết phục các quan chức Hoa Kỳ, những người (một cách chính xác) coi cuộc tấn công vào Kuwait là một cuộc tấn công nhằm vào một đồng minh giàu dầu mỏ.

Khi bán người dân Mỹ trong chiến tranh, Bush đưa ra một số lý do tại sao Mỹ nên buộc Iraq khỏi Kuwait. Những điều này bao gồm những điều sau đây: Hussein vi phạm luật pháp quốc tế khi xâm lược Kuwait. Hussein là một nhà độc tài tàn bạo, giết người dân của mình. Về luật pháp quốc tế, Bush lên án Hussein về một “hành động xâm lược thái quá và tàn bạo”, cho rằng ông ta đã “đe dọa các nước láng giềng của mình”. Ông cảnh báo rằng cuộc xâm lược Kuwait sẽ tạo điều kiện cho Hussein thực hiện các hành động xâm lược trong tương lai:

“Chúng ta phải nhận ra rằng Iraq có thể không ngừng sử dụng vũ lực để thúc đẩy tham vọng của mình. Iraq đã tích lũy được một cỗ máy chiến tranh khổng lồ ở biên giới Ả Rập Xê Út có khả năng khơi mào các cuộc chiến mà không cần hoặc không có sự chuẩn bị bổ sung. Với lịch sử gây hấn của chính phủ Iraq cũng như các nước láng giềng của chính phủ Iraq, việc cho rằng Iraq sẽ không tấn công lần nữa sẽ là điều thiếu khôn ngoan và không thực tế. "

Tổng thống đã bác bỏ “chế độ bù nhìn được áp đặt từ bên ngoài… Lực lượng của Saddam Hussein sẽ rời Kuwait. Chính phủ hợp pháp của Kuwait sẽ được khôi phục về vị trí hợp pháp của nó, và Kuwait sẽ một lần nữa được tự do ”.

Nhân quyền là một chủ đề nổi bật trong bài hùng biện của Bush. Làm nổi bật lịch sử hành quyết và “tra tấn thường xuyên” đối với những người bất đồng chính kiến, Bush gọi Hussein là “Hitler đã trở lại”, hứa rằng “Mỹ sẽ không đứng sang một bên. Thế giới sẽ không cho phép kẻ mạnh nuốt chửng kẻ yếu ”. Luận điệu trọng tâm về nhân quyền là tuyên bố rằng quân đội Iraq đã tàn bạo những đứa trẻ sinh non trong các bệnh viện Kuwait. Trọng tâm của tuyên bố này là lời khai trước Quốc hội từ một cô gái Kuwait 15 tuổi được gọi đơn giản là “Nayirah,” vào tháng 10 năm 1990, người đã tuyên bố rằng cô đã tận mắt chứng kiến ​​quân đội Iraq “đến bệnh viện với súng. Họ đưa các em bé ra khỏi lồng ấp. Họ lấy những chiếc lồng ấp và bỏ mặc những đứa trẻ chết trên sàn nhà lạnh lẽo ”. Câu chuyện này đã được Tổng thống Bush trích dẫn như một lời biện minh chính cho chiến tranh. Như Bush kể lại: "Họ đã có những đứa trẻ trong lồng ấp, và chúng bị ném ra khỏi lồng ấp, để Kuwait có thể được tháo dỡ một cách có hệ thống." Bush đã trích dẫn câu chuyện về lò ấp trứng ít nhất mười lần trong những tuần tiếp theo và nhanh chóng nhấn mạnh các vấn đề nhân quyền, thay vì lợi ích dầu mỏ của Hoa Kỳ, khi ông tuyên bố rằng “không phải dầu mà chúng tôi lo ngại, đó là sự xâm lược. Và sự hung hăng này sẽ không đứng vững… Những gì chúng ta đang nhìn là thiện và ác, đúng và sai. Và ngày này qua ngày khác, những vụ kinh hoàng gây sốc mới tiết lộ bản chất thực sự của sự khủng bố ở Kuwait ”.

Tổng thống Bush cũng đề cập đến lịch sử sử dụng vũ khí hóa học của Hussein và sự phát triển vũ khí hạt nhân được cho là của ông, như một bằng chứng cho thấy Hoa Kỳ cần phải hành động. Hussein đã sử dụng vũ khí hóa học chống lại người Kurd ở phía bắc thành phố Halabja vào năm 1988, dẫn đến 6.800 người chết (chủ yếu là dân thường), và ông ta đã ra lệnh tra tấn và giết hàng loạt bất kỳ người Iraq nào thách thức quyền lực của ông ta. Bush cảnh báo: “trong khi cả thế giới chờ đợi, Saddam đã tìm cách bổ sung vào kho vũ khí hóa học mà ông ta đang sở hữu, một loại vũ khí hủy diệt hàng loạt nguy hiểm hơn vô cùng - vũ khí hạt nhân”. Tổng thống hứa sẽ “loại bỏ tiềm năng bom hạt nhân của Hussein,” và “các cơ sở vũ khí hóa học” của ông ta.

Sau cuộc xâm lược Kuwait, Hoa Kỳ đã áp dụng các biện pháp trừng phạt trên phạm vi rộng đối với Iraq, đồng thời huy động lực lượng quân đội Hoa Kỳ tham chiến. Cuộc tấn công của đồng minh Hoa Kỳ bắt đầu vào ngày 17 tháng 1 năm 1991 và lên đến đỉnh điểm là sự thất bại quân sự nhanh chóng của Iraq và bị buộc trục xuất khỏi Kuwait, cùng với cái chết của hàng nghìn thường dân Iraq. Hàng trăm nghìn dân thường khác thiệt mạng do hậu quả của chiến tranh, do các lệnh trừng phạt do Mỹ hỗ trợ đã ngăn cản Iraq xây dựng lại cơ sở hạ tầng quan trọng, bao gồm cả lưới điện và các cơ sở lọc nước. Trong thời kỳ trước chiến tranh, Tổng thống Bush đã thừa nhận ngắn gọn rằng “Iraq đã là một quốc gia giàu có và hùng mạnh, sở hữu trữ lượng dầu lớn thứ hai thế giới” và “đất nước chúng tôi hiện nhập khẩu gần một nửa lượng dầu mà họ tiêu thụ và có thể đối mặt với một mối đe dọa lớn đối với độc lập về kinh tế của nó. Phần lớn thế giới thậm chí còn phụ thuộc nhiều hơn vào dầu nhập khẩu và thậm chí còn dễ bị tổn thương hơn trước các mối đe dọa từ Iraq ”. Tuy nhiên, Bush khẳng định rằng dầu mỏ không phải là lý do nghiêm trọng dẫn đến chiến tranh, mặc dù ông đã thừa nhận. Trong các bài phát biểu của mình trong suốt mùa thu năm 1990, Bush gần như tập trung hoàn toàn vào các vấn đề nhân quyền, an ninh quốc gia và chủ quyền nhà nước khi đưa ra trường hợp chiến tranh, chứ không phải lo ngại về dầu mỏ.

Bài hùng biện ủng hộ chiến tranh của Tổng thống Bush đã thu hút sự ủng hộ của công chúng đối với chiến tranh trong suốt mùa thu và mùa đông năm 1990. Gallup các cuộc khảo sát cho thấy rằng, mặc dù cảm giác rằng Mỹ nên "bắt đầu hành động quân sự chống lại Iraq" chỉ ở mức 21% vào tháng 8, con số đã tăng lên 41% vào tháng 12 và 49% vào tháng 1 năm 1991 - tăng 28 điểm phần trăm. Khi được hỏi liệu người Mỹ có tin rằng điều đó là "đáng để tham gia chiến tranh", 45 phần trăm trả lời có vào tháng 8 năm 1990, so với 51 phần trăm vào tháng 11 năm 1990, và 71% vào cuối tháng 1 năm 1991 khi giao tranh bắt đầu. Các yếu tố song sinh của luận điệu ủng hộ chiến tranh từ các quan chức và giới truyền thông, và sự khởi đầu của xung đột quân sự, đã hoạt động song song để hỗ trợ chính quyền trong việc vun đắp và duy trì sự ủng hộ chiến tranh.

Hùng biện và thực tế trong Chiến tranh Iraq

Những luận điệu cao cả mà tổng thống sử dụng hầu như không phù hợp với lịch sử quan hệ Hoa Kỳ-Iraq. Nhiều thông tin xuyên tạc đã được đưa ra như một sự thật, và những sự thật không đáng có đã bị giới tinh hoa chính trị và giới truyền thông phớt lờ. Một trong những sự xuyên tạc hồ sơ cao nhất là tuyên bố rằng quân đội Iraq ném trẻ sinh non Kuwait xuống sàn, trong khi lấy cắp lồng ấp của chúng. Báo cáo của Tổng công ty Phát thanh truyền hình Canada cho thấy không có bằng chứng nào về những sự kiện này đã xảy ra. Lời khai của cô gái Kuwait, Nayirah là gì? Cô gái 15 tuổi này không phải là một người đứng ngoài trung lập, mà là con gái của đại sứ Kuwait tại Hoa Kỳ. công ty quan hệ công chúng của Hoa Kỳ, Hill và Knowlton, là một phần của “phong trào du ngoạn trên biển“ Công dân vì Kuwait tự do ”do chính phủ Kuwait tài trợ, đã phân bổ hàng triệu đô la cho một chiến dịch tuyên truyền nhằm thu hút sự ủng hộ của cộng đồng. Để phản ứng lại sự lừa dối này, ân xá Quốc tế lên án Tổng thống Bush vì "sự thao túng cơ hội đối với phong trào nhân quyền quốc tế." Tuy nhiên, chi tiết của sự lừa dối này xuất hiện quá muộn để tạo ra sự khác biệt trong việc ngăn chặn sự ủng hộ cho chiến tranh.

Còn về sự so sánh giữa Saddam Hussein và Adolf Hitler, và tuyên bố rằng Iraq đe dọa an ninh quốc gia của Hoa Kỳ thì sao? Mặc dù Iraq đã giữ lại một chương trình hạt nhân trước cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, nhưng bằng cách này hay cách khác vào đầu những năm 1990, có rất ít bằng chứng về tình trạng của chương trình này. Việc thiếu thông tin chi tiết có nghĩa là chính quyền Bush có ít thông tin chi tiết trực tiếp về việc liệu mối đe dọa hạt nhân có tồn tại hay không, bất chấp những tuyên bố công khai khác. Tổng thống Bush cũng cảnh báo rằng Iraq đang tích lũy một số lượng lớn quân đội dọc theo biên giới Iraq-Ả Rập Xê-út, và sự xâm lược tiềm tàng chống lại Ả Rập Xê-út là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh. Tuy nhiên, các bức ảnh vệ tinh thương mại từ năm 1990 tiết lộ rằng không có xác nhận nào xác nhận được việc xây dựng quân đội Iraq ở biên giới Ả Rập Xê Út vào thời điểm đó.

Sự so sánh của Bush về Hussein với Hitler cũng mang tính tuyên truyền. Không còn nghi ngờ gì nữa, Hussein là một nhà độc tài hiếu chiến, đàn áp, như đã thấy trong các cuộc tấn công vào Iran, Kuwait và chính người dân của ông ta. Nhưng tội ác của Hussein là một liên minh nhỏ so với các chế độ độc tài tội ác nhất trong lịch sử. Hussein là một kẻ xâm lược khu vực, không phải toàn cầu. Đức Quốc xã là mối đe dọa hiện hữu lớn nhất mà Hoa Kỳ phải đối mặt trong lịch sử của mình. Ngược lại, mặc dù Iraq sở hữu quân đội lớn thứ tư trên thế giới vào năm 1990, nhưng quân đội đó lại đi sau quân đội Hoa Kỳ 3/4 thế kỷ về mặt công nghệ. Chiến thuật chủ đạo mà người Iraq sử dụng trong cuộc xung đột với Iran là chiến tranh trong chiến hào, vốn đã không được Mỹ và các đồng minh sử dụng kể từ Thế chiến thứ nhất. . Xe tăng Hoa Kỳ, được trang bị máy cày, lao lên chiến hào, chôn sống quân đội Iraq và giết chết hàng trăm người. Hàng ngàn người khác chết trên "Xa lộ Tử thần" giữa Iraq và Kuwait. Các đoàn xe quân sự của Iraq đang rút lui đã bị máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ tàn phá, dẫn đến thiêu hủy hàng loạt và hình ảnh của sự tàn phá đã trở thành biểu tượng lâu dài cho sự tàn phá một chiều của chiến tranh, hầu như chỉ chống lại người Iraq. Các máy bay chiến đấu của Mỹ gọi cuộc tấn công của họ nhằm vào các phương tiện của Iraq là "cuộc bắn giết của Thổ Nhĩ Kỳ", cho thấy mức độ nghiêm trọng của cuộc tàn sát. Trong khi ước tính có khoảng 10.000 đến 12.000 quân Iraq đã thiệt mạng trong cuộc xung đột, 147 trường hợp thiệt mạng của Hoa Kỳ đã được ghi nhận - chuyển thành sự mất cân bằng giữa 68-1 đến 82-1. Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và Chiến tranh thế giới thứ hai cũng hoàn toàn khác nhau về thời gian của chúng. Hoa Kỳ đã đánh bại Iraq chỉ trong 5 tuần giao tranh vào năm 1991. Ngược lại, Chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài từ năm 1939 đến năm 1945 và sự tham gia của Hoa Kỳ kéo dài trong ba năm rưỡi, từ cuối năm 1941 đến giữa năm 1945. Nói tóm lại, sự so sánh của Bush về Hussein và Hitler là một thành tựu tuyên truyền đáng kinh ngạc.

Chính quyền Bush cũng lừa dối công chúng về vũ khí hóa học của Iraq. Hoa Kỳ đã cung cấp hàng tỷ đô la viện trợ quân sự và kinh tế cho Iraq trong suốt những năm 1980, cho đến khi Hussein xâm lược Kuwait. Mỹ là nước ủng hộ chế độ của Hussein trong thời kỳ tàn bạo tồi tệ nhất của ông ta, trước, trong và sau vụ ám sát Halabja năm 1988. Vấn đề này hầu như không xuất hiện trên các bản tin trong thời gian diễn ra Chiến tranh vùng Vịnh, nhưng nó thường xuyên xảy ra hơn đã đưa tin sau cuộc xâm lược Kuwait, kể từ khi luồng khí này được đưa vào tường thuật của chính Hoa Kỳ rằng họ quan tâm đến nhân quyền ở Kuwait. trong trò chơi sức mạnh địa chính trị giữa Mỹ và Iraq.

Nhìn vào sự ủng hộ trong quá khứ dành cho Hussein, người ta thấy dấu vân tay của Hoa Kỳ trên khắp các cuộc tấn công hóa học của Iraq vào người Kurd và chống lại quân đội Iran trong cuộc chiến tranh Iran-Iraq. Tổng thống Bush, làm việc với các Thượng nghị sĩ như Đảng Cộng hòa Bob Dole, đã đấu tranh chống lại việc thiết lập các biện pháp trừng phạt đối với Iraq sau vụ xả súng Halabja. Hơn nữa, theo báo cáo của Thời báo New York vào năm 2002, các cuộc thảo luận với “các sĩ quan quân đội cấp cao” tiết lộ rằng chính quyền Reagan đã bí mật cung cấp “hỗ trợ lập kế hoạch chiến đấu quan trọng [cho Iraq chống lại Iran] vào thời điểm tình báo Mỹ biết rằng các chỉ huy Iraq sẽ sử dụng vũ khí hóa học để tiến hành các trận chiến quyết định của Iran. -Chiến tranh tàn khốc. ” ABC’s Nightline báo cáo vào năm 1992 rằng "chính quyền Reagan / Bush cho phép - và thường xuyên khuyến khích - dòng tiền, tín dụng nông nghiệp, công nghệ lưỡng dụng (cho phép Iraq phát triển vũ khí hóa học), hóa chất và vũ khí đến Iraq." Trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh Iraq năm 2003, các quan chức Hoa Kỳ đã xóa hàng nghìn trang khỏi các báo cáo của Liên Hợp Quốc ghi lại cách Hoa Kỳ cung cấp các thành phần để phát triển vũ khí hóa học. Như báo Đức Die Tageszetung đã báo cáo:

“Các trang bị thiếu [trong báo cáo của LHQ] liên quan đến hai mươi bốn tập đoàn có trụ sở tại Hoa Kỳ và chính quyền Ronald Reagan và George Bush Sr. kế tiếp có liên quan đến việc cung cấp bất hợp pháp cho chính quyền Saddam Hussein vô số vũ khí hủy diệt hàng loạt và việc huấn luyện sử dụng chúng . ”

Chính quyền Bush đã kích hoạt các hành động tàn bạo bằng vũ khí hóa học do Hussein gây ra. Tuy nhiên, sự thừa nhận rộng rãi về thực tế khắc nghiệt này đã không thành hiện thực trong thời gian diễn ra cuộc xâm lược năm 2003, vì nó đe dọa làm suy yếu câu chuyện rằng Hoa Kỳ quan tâm đến nhân quyền ở Iraq.

Cuối cùng, điều gì khiến Tổng thống Bush nhấn mạnh rằng dầu mỏ không phải là lợi ích quan trọng của Hoa Kỳ? Bằng chứng hiện có cho thấy tuyên bố này là một lời nói dối, được cho là để che khuất các lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ ở Trung Đông. Các tài liệu của chính phủ hiện đã được giải mật cho thấy lợi ích dầu mỏ là mối quan tâm trung tâm của tổng thống. Chỉ thị An ninh Quốc gia 26, do Tổng thống Bush ký năm 1989, nêu rõ rằng

“Việc tiếp cận dầu ở Vịnh Ba Tư và an ninh của các quốc gia thân thiện quan trọng trong khu vực [trong đó Iraq là quốc gia vào năm 1989] là yếu tố quan trọng đối với an ninh quốc gia của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vẫn cam kết bảo vệ các lợi ích quan trọng của mình trong khu vực, nếu cần thiết và thích hợp thông qua việc sử dụng lực lượng quân sự của Hoa Kỳ, chống lại Liên Xô hoặc bất kỳ cường quốc nào khác có lợi ích bất hợp pháp [trái ngược] với chính chúng ta. ”

Vào thời điểm đó, Bush viết rằng "quan hệ bình thường giữa Hoa Kỳ và Iraq sẽ phục vụ lợi ích lâu dài hơn của chúng tôi và thúc đẩy sự ổn định ở cả vùng Vịnh và Trung Đông." Chỉ thị An ninh Quốc gia 54, mà Bush ký vào tháng 1 năm 1991, cũng tuyên bố rằng dầu mỏ Trung Đông là quan trọng đối với an ninh quốc gia của Hoa Kỳ và rằng họ vẫn cam kết sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích “của mình” [dầu của Iraq có lẽ thuộc về Hoa Kỳ]. Tuy nhiên, chính quyền Bush đã đảo ngược hướng đi, tuyên bố trong tài liệu rằng “Iraq, nhờ cuộc xâm lược vô cớ vào Kuwait vào ngày 2 tháng 8 năm 1990, và sự chiếm đóng tàn bạo sau đó, rõ ràng là một cường quốc có lợi ích nhất định đối với chúng ta”. Hai tài liệu của NSD tiết lộ rằng mối quan tâm chính của Hoa Kỳ ở Iraq là dầu mỏ và Bush sẵn sàng gạt bỏ những hành động tàn bạo nhân quyền của Iraq để theo đuổi các lợi ích của thực dân mới. Các tài liệu cũng tiết lộ rằng Hoa Kỳ đã cam kết sử dụng vũ lực dưới danh nghĩa thống trị dầu mỏ của Iraq, trái ngược với những lời nói dối công khai của Tổng thống Bush.

Vượt lên trên những vĩ nhân của lịch sử

Các bài điếu văn trên phương tiện truyền thông của Tổng thống Bush sẽ tập trung vào "sự vĩ đại" của cựu tổng thống như một người có danh dự, quyết tâm và quyết tâm. Nhưng chủ nghĩa đế quốc của Hoa Kỳ không phải về một con người, một nhân cách hay về sức mạnh của ý chí. Tuy nhiên, để loại bỏ sự bí ẩn này khỏi cách chúng ta nói về các tổng thống Hoa Kỳ, sẽ phơi bày những tham vọng thực dân mới trần trụi trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Không có gì cao quý về những động cơ tàn bạo thúc đẩy chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, và rất ít người Mỹ sẽ sẵn sàng bảo vệ các cuộc chiến tranh tội phạm ở nước ngoài nếu họ nhận thức được những chi tiết bẩn thỉu xác định những xung đột này. Công việc của “những kẻ đánh cắp quyền lực” trên báo chí, mượn một cụm từ của David Barsamian, để lặp lại những tuyên bố tuyên truyền của các quan chức Hoa Kỳ. Xem xét nhiệm vụ này, các nhà báo thích quan niệm lãng mạn về lòng vị tha của người Mỹ hơn là những đánh giá tỉnh táo hơn về tổng thống là kẻ thao túng đế quốc. Và bằng cách nhấn mạnh di sản của George H. W. Bush không phụ thuộc vào tuyên truyền của tổng thống, các phương tiện truyền thông gạt các vấn đề trọng tâm của chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa đế quốc của Hoa Kỳ ở Trung Đông.

Để xem bài nói chuyện chính trị gần đây nhất của tôi về các phong trào xã hội của Hoa Kỳ và cuộc bầu cử năm 2018, hãy xem:


Những lời nói dối mà chúng tôi được kể về Iraq

Cuộc đối đầu của chính quyền Bush với Iraq cũng giống như một cuộc tranh giành uy tín cũng như về lực lượng quân sự. Washington tuyên bố rằng Baghdad nuôi dưỡng tham vọng xâm lược, tiếp tục phát triển và tích trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt và duy trì quan hệ với Al Qaeda. Thiếu bằng chứng chắc chắn, công chúng phải cân nhắc về khuynh hướng dối trá của Saddam Hussein đối với hồ sơ của chính quyền. Dựa trên lịch sử gần đây, đó không phải là một lựa chọn dễ dàng.

Chính quyền Bush đầu tiên, với sự góp mặt của Dick Cheney, Paul D. Wolfowitz và Colin L. Powell tại Lầu Năm Góc, đã trình bày sai lệch một cách có hệ thống về nguyên nhân Iraq xâm lược Kuwait, bản chất của hành vi Iraq ở Kuwait và cái giá của Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư. Giống như chính quyền Bush thứ hai, chính quyền này đã sử dụng cuộc đối đầu một cách hoài nghi để biện minh cho một chính sách đối ngoại mở rộng và quân sự hơn trong thời kỳ hậu Việt Nam.

Khi quân đội Iraq xâm lược Kuwait vào ngày 2 tháng 8 năm 1990, Tổng thống đầu tiên Bush đã ví nó như sự chiếm đóng Rhineland của Đức Quốc xã. “Nếu lịch sử dạy chúng ta bất cứ điều gì, thì đó là chúng ta phải chống lại sự xâm lược nếu không nó sẽ phá hủy các quyền tự do của chúng ta,” ông tuyên bố. Chính quyền đã tiết lộ các báo cáo rằng hàng chục nghìn quân Iraq đang tập trung ở biên giới Ả Rập Xê Út để chuẩn bị cho một cuộc xâm lược vào các mỏ dầu lớn của thế giới. Các nền kinh tế công nghiệp trên toàn cầu sẽ bị bắt làm con tin nếu Iraq thành công.

Thực tế đã khác. Hai bức ảnh vệ tinh của Liên Xô do St. Petersburg Times thu được đã đặt ra câu hỏi về sự tích lũy quân đội Iraq như vậy. Cả CIA và Cơ quan Tình báo Quốc phòng của Lầu Năm Góc đều không xem một cuộc tấn công của Iraq nhằm vào Ả Rập Xê-út là có thể xảy ra. Ước tính của chính quyền về sức mạnh quân đội Iraq cũng bị phóng đại quá mức. Sau chiến tranh, Susan Sachs của Newsday gọi Iraq là “kẻ thù ma”: “Không thể tìm thấy phần lớn quân đội Iraq hùng mạnh, lên tới hơn 500.000 người ở Kuwait và miền nam Iraq, không thể tìm thấy”.

Các sinh viên của Chiến tranh vùng Vịnh phần lớn đồng ý rằng cuộc xâm lược Kuwait của Hussein chủ yếu được thúc đẩy bởi những bất bình lịch sử cụ thể, không phải bởi tham vọng kiểu Hitler. Giống như hầu hết các nhà cầm quyền Iraq trước ông, Hussein từ chối chấp nhận các đường biên giới do Anh vẽ ra sau Thế chiến thứ nhất, gần như cắt đứt Iraq với Vùng Vịnh. Iraq cũng phản đối yêu cầu của Kuwait rằng Iraq phải hoàn trả các khoản vay đã thực hiện trong cuộc chiến tranh Iran-Iraq vào những năm 1980.

Các quan chức hành chính dường như hiểu tất cả những điều này. Vào tháng 7 năm 1990, Đại sứ Hoa Kỳ tại Baghdad April Glaspie nói với Hussein rằng Washington “không có ý kiến ​​gì về các cuộc xung đột Ả Rập-Ả Rập, như bất đồng biên giới của bạn với Kuwait”, một tuyên bố sau đó mà bà lấy làm tiếc.

Cuộc họp đầu tiên của Hội đồng An ninh Quốc gia sau khi Iraq xâm lược Kuwait cũng không kém phần quan trọng. Như một người tham gia báo cáo đã nói, thái độ là, "Này, quá tệ về Kuwait, nhưng đó chỉ là một trạm xăng - và ai quan tâm liệu tấm biển ghi Sinclair hay Exxon?"

Nhưng phe diều hâu của chính quyền, do Cheney lãnh đạo, đã nhìn thấy cơ hội lớn để tận dụng động thái của Iraq chống lại Kuwait. Bush anh cả đã công khai tuyên bố, “một lằn ranh đã được vẽ trên cát,” và ông kêu gọi một “trật tự thế giới mới. thoát khỏi nguy cơ khủng bố. ” Tiền đề không chắc chắn của ông, như Cố vấn An ninh Quốc gia Brent Scowcroft đã lưu ý, là Hoa Kỳ “kể từ đó sẽ có nghĩa vụ dẫn dắt cộng đồng thế giới ở một mức độ chưa từng có” khi họ cố gắng “theo đuổi lợi ích quốc gia của chúng ta”.

Chính quyền nhận ra rằng một giải pháp hòa bình cho cuộc khủng hoảng sẽ cắt giảm tham vọng lớn của họ. Nhà Trắng đã đưa ra các sáng kiến ​​ngoại giao nhằm chấm dứt cuộc khủng hoảng, bao gồm một thỏa hiệp, do các nhà lãnh đạo Ả Rập đưa ra, để Iraq sáp nhập một phần nhỏ Kuwait và rút quân. Để biện minh cho cuộc chiến với Hussein, chính quyền Bush đã tổ chức một chiến dịch tuyên truyền về những hành động tàn bạo của người Iraq ở Kuwait. Người Mỹ đã bị thu hút bởi một thanh niên Kuwait 15 tuổi được gọi là nhân chứng của người tị nạn kể về những người lính Iraq lôi trẻ sơ sinh ra khỏi lồng ấp của bệnh viện ở Kuwait, để chúng nằm trên sàn nhà lạnh giá cho đến chết.

Công chúng không biết rằng nhân chứng là con gái của đại sứ Kuwait tại Hoa Kỳ, và lời khai trước quốc hội của cô ấy đã được công ty quan hệ công chúng Hill & amp Knowlton dàn xếp và Kuwait trả tiền như một phần của chiến dịch đưa Hoa Kỳ vào chiến tranh.

Cho đến ngày nay, hầu hết mọi người đều coi Chiến dịch Bão táp sa mạc là sạch sẽ đáng kể, được đánh dấu bằng việc chuyên gia sử dụng vũ khí chính xác để giảm thiểu “thiệt hại tài sản”. Trong khi truyền hình Mỹ liên tục phát hình ảnh tên lửa hành trình lao vào các mục tiêu của họ, thì Lầu Năm Góc lại lặng lẽ thực hiện chiến dịch ném bom rải thảm. Trong số 142.000 tấn bom ném xuống Iraq và Kuwait trong 43 ngày, chỉ có khoảng 8% là loại "thông minh".

Việc nhắm mục tiêu bừa bãi vào cơ sở hạ tầng dân sự của Iraq đã khiến đất nước này đổ nát. Một phái bộ của Liên hợp quốc vào tháng 3 năm 1991 đã mô tả cuộc ném bom của quân đồng minh vào Iraq là “gần ngày tận thế” và nói rằng nó đe dọa làm giảm “một xã hội được cơ giới hóa và đô thị hóa khá cao. đến thời kỳ tiền công nghiệp. " Chính thức, quân đội Mỹ chỉ liệt kê 79 lính Mỹ thiệt mạng trong trận chiến, cộng với 59 thành viên của lực lượng đồng minh.

Một nghiên cứu nhân khẩu học tiếp theo của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ kết luận rằng Iraq có thể đã phải chịu 145.000 người chết - 40.000 người chết vì quân đội và 5.000 dân thường trong chiến tranh và 100.000 người chết sau chiến tranh vì bạo lực và tình trạng sức khỏe. Cuộc chiến cũng sản sinh ra hơn 5 triệu người tị nạn. Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác, các biện pháp trừng phạt tiếp theo ước tính đã giết chết hơn nửa triệu trẻ em Iraq.

Cuộc chiến vùng Vịnh đã chứng minh giá trị của hai câu ngạn ngữ: “Chiến tranh là địa ngục” và “Sự thật là thương vong đầu tiên”. Cho đến nay, không có gì cho thấy rằng một cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai sẽ chứng minh sự thật hoặc con người ít tốn kém hơn.


Bản tin Quốc phòng buổi sáng

Đăng ký Morning Defense, một bản tóm tắt hàng ngày về bộ máy an ninh quốc gia của Washington.

Bằng cách đăng ký, bạn đồng ý nhận các bản tin hoặc cập nhật qua email từ POLITICO và bạn đồng ý với chính sách bảo mật và điều khoản dịch vụ của chúng tôi. Bạn có thể hủy đăng ký bất cứ lúc nào và bạn có thể liên hệ với chúng tôi tại đây. Biểu mẫu đăng ký này được bảo vệ bởi reCAPTCHA và Chính sách quyền riêng tư và Điều khoản dịch vụ của Google sẽ được áp dụng.

“Ngay từ đầu, cùng hành động với những người khác, chúng tôi đã tìm cách tạo ra phản ứng quốc tế rộng rãi nhất có thể đối với sự xâm lược của Iraq. Mức độ hợp tác và lên án của thế giới đối với Iraq là chưa từng có ”.

Phản ánh sự ủng hộ rộng rãi của công chúng đối với các chính sách Iraq của tổng thống, Hạ nghị sĩ Dick Gephardt (D-Mo.), Lãnh đạo phe đa số tại Hạ viện, nói: “Ở đây, ý thức đoàn kết và không có sự phản đối rộng rãi đối với hành động này ở Vịnh Ba Tư. chứng minh cho cảm giác bản năng, mạnh mẽ của chúng tôi rằng đây là một sự nghiệp đáng để đứng lên và đấu tranh. ”

Vào ngày 8 tháng 1 năm 1991 - một tuần trước thời hạn ngày 15 tháng 1 được ban hành cho Iraq để rút các lực lượng được quy định trong Nghị quyết 678 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 29 tháng 11 năm 1990 - Bush yêu cầu một nghị quyết chung của Quốc hội cho phép ông sử dụng vũ lực chống lại quân đội Iraq.

Ban đầu hành động mà không có sự cho phép của Quốc hội, Lầu Năm Góc đã triển khai hơn 700.000 lính Mỹ tới Ả Rập Xê-út và khu vực Vịnh Ba Tư trong 5 tháng trước đó để đối phó với cuộc xâm lược Kuwait vào ngày 2 tháng 8 năm 1990 của Iraq. (Tổng cộng, 147 người cuối cùng đã bị giết bởi hành động của kẻ thù.)

Thượng viện đã thông qua nghị quyết vào ngày 12 tháng 1 với số phiếu từ 52 đến 47. Hai đảng viên Cộng hòa, Sens. Chuck Grassley ở Iowa và Mark Hatfield của Oregon, đã bỏ phiếu chống lại nghị quyết trong khi 5 đảng viên Dân chủ ủng hộ nó.

Cùng ngày, Hạ viện, với số phiếu từ 250 đến 183, đã thông qua nghị quyết. Cuộc không kích nhằm đánh đuổi những kẻ xâm lược khỏi Kuwait - dưới sự bảo trợ của một liên minh rộng lớn có trụ sở tại Ả Rập Xê-út bao gồm cả lực lượng Syria và Ai Cập - bắt đầu vào ngày 17 tháng 1.


Sáu tuần sau khi Iraq xâm lược Kuwait, Tổng thống George H.W. Bush đã đến trước một phiên họp chung của Quốc hội vào ngày này năm 1990 để đưa ra phản ứng của chính quyền đối với cuộc tấn công.

Với việc xây dựng quân đội lớn của Mỹ ở Trung Đông, tổng thống đã vạch ra một loạt mục tiêu. Chúng bao gồm việc rút quân vô điều kiện của các lực lượng Iraq, khôi phục chính phủ Kuwait, thúc đẩy an ninh và ổn định trong khu vực và sự an toàn của các công dân Hoa Kỳ bị mắc kẹt ở Kuwait và Iraq.

"Iraq sẽ không được phép sáp nhập Kuwait", Bush nói với các nhà lập pháp trước sự chứng kiến ​​của các nhà ngoại giao nước ngoài, bao gồm cả đại sứ Iraq. “Và đó không phải là một lời đe dọa, không phải là một lời khoe khoang. Đó chỉ là cách mà nó sẽ diễn ra. "

“Trong những thời điểm khó khăn này,” Bush tiếp tục nói, “. một trật tự thế giới mới có thể xuất hiện: một kỷ nguyên mới, giải phóng khỏi mối đe dọa khủng bố, mạnh mẽ hơn trong việc theo đuổi công lý và an toàn hơn trong hành trình tìm kiếm hòa bình. ”

Tổng thống đã sử dụng cuộc khủng hoảng để thúc giục Quốc hội do đảng Dân chủ lãnh đạo thông qua một thỏa thuận ngân sách bị đình trệ và hỗ trợ tăng cường khai thác và sản xuất dầu trong nước.

Phản ánh sự ủng hộ rộng rãi của công chúng đối với các chính sách Iraq của tổng thống, Hạ nghị sĩ Dick Gephardt (D-Mo.), Lãnh đạo phe đa số, cho biết, “Ở đây, ý thức đoàn kết và không có sự phản đối rộng rãi đối với hành động này ở Vịnh Ba Tư là minh chứng. với cảm giác bản năng, mạnh mẽ của chúng ta rằng đây là một nguyên nhân đáng để chúng ta đứng lên và đấu tranh. ”

Đầu năm 1991, với số phiếu 250-183, Hạ viện đã thông qua Nghị quyết vùng Vịnh Ba Tư, cho phép Bush sử dụng vũ lực chống lại quân đội Iraq. Điều này sớm dẫn đến một nỗ lực thành công nhằm đánh đuổi những kẻ xâm lược khỏi Kuwait - dưới sự bảo trợ của một liên minh rộng lớn có trụ sở tại Ả Rập Xê-út bao gồm các lực lượng Syria và Ai Cập.


George Bush & # x27s bài phát biểu trước đại hội đồng LHQ

Liên hợp quốc ra đời với hy vọng sống sót sau một cuộc chiến tranh thế giới, hy vọng về một thế giới tiến tới công lý, thoát khỏi những khuôn mẫu cũ của xung đột và sợ hãi.

Các thành viên sáng lập quyết tâm rằng hòa bình của thế giới sẽ không bao giờ bị phá hủy bởi ý chí và sự xấu xa của bất kỳ con người nào.

Chúng tôi đã thành lập một hội đồng an ninh của Liên Hợp Quốc để, không giống như Hội Quốc Liên, các cuộc thảo luận của chúng tôi sẽ không chỉ là nói, các quyết định của chúng tôi sẽ nhiều hơn là mong muốn.

Sau nhiều thế hệ độc tài gian dối, các hiệp ước bị phá vỡ và cuộc sống phung phí, chúng ta đã cống hiến hết mình cho các tiêu chuẩn về phẩm giá con người được chia sẻ cho tất cả mọi người và cho một hệ thống an ninh được bảo vệ bởi tất cả mọi người.

Ngày nay, các tiêu chuẩn này và bảo mật này đang bị thách thức. Cam kết của chúng ta đối với phẩm giá con người đang bị thách thức bởi nghèo đói dai dẳng và bệnh tật hoành hành. Sự đau khổ rất lớn. Và trách nhiệm của chúng tôi rất rõ ràng.

Hoa Kỳ đang tham gia với thế giới để cung cấp viện trợ đến những nơi mà họ tiếp cận con người và nâng cao cuộc sống, để mở rộng thương mại và sự thịnh vượng mà nó mang lại, và cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế ở những nơi họ đang rất cần.

Như một biểu tượng cho cam kết của chúng tôi đối với phẩm giá con người, Hoa Kỳ sẽ trở lại Unesco.

Tổ chức này đã được cải tổ, và Hoa Kỳ sẽ tham gia đầy đủ vào sứ mệnh thúc đẩy quyền con người và sự khoan dung và học hỏi. An ninh chung của chúng ta đang bị thách thức bởi các cuộc xung đột khu vực, xung đột sắc tộc và tôn giáo vốn có từ lâu đời, nhưng không phải là không thể tránh khỏi.

Ở Trung Đông không thể có hòa bình cho bên nào nếu không có tự do cho cả hai bên.

Mỹ cam kết vì một Palestine độc ​​lập và dân chủ, sát cánh cùng Israel trong hòa bình và an ninh. Giống như tất cả những người khác,

Người Palestine xứng đáng có một chính phủ phục vụ lợi ích của họ và lắng nghe tiếng nói của họ.

Quốc gia của tôi sẽ tiếp tục khuyến khích tất cả các bên thực hiện trách nhiệm của mình khi chúng tôi tìm kiếm một giải pháp công bằng và toàn diện cho cuộc xung đột.

Above all, our principles and our security are challenged today by outlaw groups and regimes that accept no law of morality and have no limit to their violent ambitions.

In the attacks on America a year ago, we saw the destructive intentions of our enemies. This threat hides within many nations, including my own.

In cells, in camps, terrorists are plotting further destruction and building new bases for their war against civilisation.

And our greatest fear is that terrorists will find a shortcut to their mad ambitions when an outlaw regime supplies them with the technologies to kill on a massive scale.

In one place and one regime, we find all these dangers in their most lethal and aggressive forms, exactly the kind of aggressive threat the United Nations was born to confront.

Twelve years ago, Iraq invaded Kuwait without provocation. And the regime's forces were poised to continue their march to seize other countries and their resources.

Had Saddam Hussein been appeased instead of stopped, he would have endangered the peace and stability of the world. Yet this aggression was stopped by the might of coalition forces and the will of the United Nations.

To suspend hostilities, to spare himself, Iraq's dictator accepted a series of commitments. The terms were clear to him and to all, and he agreed to prove he is complying with every one of those obligations.

He has proven instead only his contempt for the United Nations and for all his pledges. By breaking every pledge, by his deceptions and by his cruelties, Saddam Hussein has made the case against himself.

In 1991, security council resolution 688 demanded that the Iraqi regime cease at once the repression of its own people, including the systematic repression of minorities, which the council said threatened international peace and security in the region. This demand goes ignored.

Last year, the UN commission on human rights found that Iraq continues to commit extremely grave violations of human rights and that the regime's repression is all-pervasive.

Tens of thousands of political opponents and ordinary citizens have been subjected to arbitrary arrest and imprisonment, summary execution and torture by beating and burning, electric shock, starvation, mutilation and rape.

Wives are tortured in front of their husbands children in the presence of their parents and all of these horrors concealed from the world by the apparatus of a totalitarian state.

In 1991, the UN security council, through resolutions 686 and 687, demanded that Iraq return all prisoners from Kuwait and other lands. Iraq's regime agreed. It broke this promise.

Last year, the secretary-general's high-level coordinator for this issue reported that Kuwaiti, Saudi, Indian, Syrian, Lebanese, Iranian, Egyptian, Bahraini and Omani nationals remain unaccounted for more than 600 people. One American pilot is among them.

In 1991, the UN security council through resolution 687 demanded that Iraq renounce all involvement with terrorism and permit no terrorist organisations to operate in Iraq.

Iraq's regime agreed. It broke its promise. In violation of security council resolution 1373, Iraq continues to shelter and support terrorist organisations that direct violence against Iran, Israel and western governments. Iraqi dissidents abroad are targeted for murder.

In 1993, Iraq attempted to assassinate the Emir of Kuwait and a former American president. Iraq's government openly praised the attacks of September 11. And al-Qaida terrorists escaped from Afghanistan and are known to be in Iraq.

In 1991, the Iraqi regime agreed to destroy and stop developing all weapons of mass destruction and long range missiles and to prove to the world it has done so by complying with rigorous inspections.

Iraq has broken every aspect of this fundamental pledge. From 1991 to 1995, the Iraqi regime said it had no biological weapons.

After a senior official in its weapons program defected and exposed this lie, the regime admitted to producing tens of thousands of litres of anthrax and other deadly biological agents for use with Scud warheads, aerial bombs and aircraft spray tanks.

UN inspectors believe Iraq has produced two to four times the amount of biological agents it declared and has failed to account for more than three metric tonnes of material that could be used to produce biological weapons.

Right now, Iraq is expanding and improving facilities that were used for the production of biological weapons.

United Nations inspections also revealed that Iraq likely maintains stockpiles of VX, mustard and other chemical agents, and that the regime is rebuilding and expanding facilities capable of producing chemical weapons.

And in 1995, after four years of deception, Iraq finally admitted it had a crash nuclear weapons program prior to the Gulf war.

We know now, were it not for that war, the regime in Iraq would likely have possessed a nuclear weapon no later than 1993.

Today, Iraq continues to withhold important information about its nuclear program, weapons design, procurement logs, experiment data, and accounting of nuclear materials and documentation of foreign assistance.

Iraq employs capable nuclear scientists and technicians. It retains physical infrastructure needed to build a nuclear weapon.

Iraq has made several attempts to buy high-strength aluminium tubes used to enrich uranium for a nuclear weapon. Should Iraq acquire fissile material, it would be able to build a nuclear weapon within a year.

And Iraq's state-controlled media has reported numerous meetings between Saddam Hussein and his nuclear scientists, leaving little doubt about his continued appetite for these weapons.

Iraq also possesses a force of Scud-type missiles with ranges beyond the 94 miles permitted by the UN Work at testing and production facilities shows that Iraq is building more long range missiles that can inflict mass death throughout the region.

In 1990, after Iraq's invasion of Kuwait, the world imposed economic sanctions on Iraq. Those sanctions were maintained after the war to compel the regime's compliance with security council resolutions.

In time, Iraq was allowed to use oil revenues to buy food. Saddam Hussein has subverted this program, working around the sanctions to buy missile technology and military materials.

He blames the suffering of Iraq's people on the United Nations, even as he uses his oil wealth to build lavish palaces for himself and to buy arms for his country.

By refusing to comply with his own agreements, he bears full guilt for the hunger and misery of innocent Iraqi citizens. In 1991, Iraq promised UN inspectors immediate and unrestricted access to verify Iraq's commitment to rid itself of weapons of mass destruction and long range missiles.

Iraq broke this promise, spending seven years deceiving, evading and harassing UN inspectors before ceasing cooperation entirely.

Just months after the 1991 cease-fire, the security council twice renewed its demand that the Iraqi regime cooperate fully with inspectors, condemning Iraq's serious violations of its obligations.

The security council again renewed that demand in 1994, and twice more in 1996, deploring Iraq's clear violations of its obligations.

The security council renewed its demand three more times in 1997, citing flagrant violations, and three more times in 1998, calling Iraq's behaviour totally unacceptable. And in 1999, the demand was renewed yet again.

As we meet today, it's been almost four years since the last UN inspector set foot in Iraq - four years for the Iraqi regime to plan and to build and to test behind the cloak of secrecy.

We know that Saddam Hussein pursued weapons of mass murder even when inspectors were in his country. Are we to assume that he stopped when they left?

The history, the logic and the facts lead to one conclusion: Saddam Hussein's regime is a grave and gathering danger.

Will the United Nations serve the purpose of its founding or will it be irrelevant?

The United States helped found the United Nations. We want the United Nations to be effective and respectful and successful.

We want the resolutions of the world's most important multilateral body to be enforced. And right now those resolutions are being unilaterally subverted by the Iraqi regime.

Our partnership of nations can meet the test before us by making clear what we now expect of the Iraqi regime.

If the Iraqi regime wishes peace, it will immediately and unconditionally forswear, disclose and remove or destroy all weapons of mass destruction, long-range missiles and all related material.

If the Iraqi regime wishes peace, it will immediately end all support for terrorism and act to suppress it - as all states are required to do by UN security council resolutions.

If the Iraqi regime wishes peace, it will cease persecution of its civilian population, including Shi'a, Sunnis, Kurds, Turkmens and others - again, as required by Security council resolutions.

If the Iraqi regime wishes peace, it will release or account for all Gulf war personnel whose fate is still unknown. It will return the remains of any who are deceased, return stolen property, accept liability for losses resulting from the invasion of Kuwait and fully cooperate with international efforts to resolve these issues as required by security council resolutions.

If the Iraqi regime wishes peace, it will immediately end all illicit trade outside the oil-for-food program. It will accept UN administration of funds from that program to ensure that the money is used fairly and promptly for the benefit of the Iraqi people.

If all these steps are taken, it will signal a new openness and accountability in Iraq and it could open the prospect of the United Nations helping to build a government that represents all Iraqis, a government based on respect for human rights, economic liberty and internationally supervised elections.

The United States has no quarrel with the Iraqi people. They've suffered too long in silent captivity. Liberty for the Iraqi people is a great moral cause and a great strategic goal.

The people of Iraq deserve it. The security of all nations requires it. Free societies do not intimidate through cruelty and conquest. And open societies do not threaten the world with mass murder. The United States supports political and economic liberty in a unified Iraq. We can harbour no illusions - and that's important today to remember.

Saddam Hussein attacked Iran in 1980 and Kuwait in 1990. He's fired ballistic missiles at Iran and Saudi Arabia, Bahrain and Israel.

His regime once ordered the killing of every person between the ages of 15 and 70 in certain Kurdish villages in northern Iraq. He has gassed many Iranians and 40 Iraqi villages.

My nation will work with the UN security council to meet our common challenge. If Iraq's regime defies us again, the world must move deliberately, decisively to hold Iraq to account.

We will work with the UN security council for the necessary resolutions.

But the purposes of the United States should not be doubted.

The security council resolutions will be enforced, the just demands of peace and security will be met or action will be unavoidable and a regime that has lost its legitimacy will also lose its power.

Events can turn in one of two ways. If we fail to act in the face of danger, the people of Iraq will continue to live in brutal submission.

The regime will have new power to bully and dominate and conquer its neighbours, condemning the Middle East to more years of bloodshed and fear.

The regime will remain unstable - the region will remain unstable, with little hope of freedom and isolated from the progress of our times.

With every step the Iraqi regime takes toward gaining and deploying the most terrible weapons, our own options to confront that regime will narrow.

And if an emboldened regime were to supply these weapons to terrorist allies, then the attacks of September 11 would be a prelude to far greater horrors.

If we meet our responsibilities, if we overcome this danger, we can arrive at a very different future. The people of Iraq can shake off their captivity.

They can one day join a democratic Afghanistan and a democratic Palestine, inspiring reforms throughout the Muslim world.

These nations can show by their example that honest government and respect for women and the great Islamic tradition of learning can triumph in the Middle East and beyond. And we will show that the promise of the United Nations can be fulfilled in our time.

Neither of these outcomes is certain. Both have been set before us. We must choose between a world of fear and a world of progress. We cannot stand by and do nothing while dangers gather.

We must stand up for our security and for the permanent rights and the hopes of mankind.

By heritage and by choice, the United States of America will make that stand. And, delegates to the United Nations, you have the power to make that stand, as well.


Nayirah testimony

Các Nayirah testimony was a false testimony given before the United States Congressional Human Rights Caucus on October 10, 1990 by a 15-year-old girl who provided only her first name, Nayirah. The testimony was widely publicized, and was cited numerous times by United States senators and President George H. W. Bush in their rationale to back Kuwait in the Gulf War. In 1992, it was revealed that Nayirah's last name was Al-Ṣabaḥ (Arabic: نيرة الصباح ‎) and that she was the daughter of Saud Al-Sabah, the Kuwaiti ambassador to the United States. Furthermore, it was revealed that her testimony was organized as part of the Citizens for a Free Kuwait public relations campaign, which was run by the American public relations firm Hill & Knowlton for the Kuwaiti government. Following this, al-Sabah's testimony has come to be regarded as a classic example of modern atrocity propaganda. [1] [2]

In her emotional testimony, Nayirah claimed that after the Iraqi invasion of Kuwait she had witnessed Iraqi soldiers take babies out of incubators in a Kuwaiti hospital, take the incubators, and leave the babies to die.

Her story was initially corroborated by Amnesty International, a British NGO, which published several independent reports about the killings [3] and testimony from evacuees. Following the liberation of Kuwait, reporters were given access to the country. An ABC report found that "patients, including premature babies, did die, when many of Kuwait's nurses and doctors . fled" but Iraqi troops "almost certainly had not stolen hospital incubators and left hundreds of Kuwaiti babies to die." [4] Amnesty International reacted by issuing a correction, with executive director John Healey subsequently accusing the Bush administration of "opportunistic manipulation of the international human rights movement". [5]


In Reality, The Bush Administration's Rationale For Invading Iraq Depended On Claim Of An Active Weapons Program

Thời báo New York: Bush Insisted That Iraq Was Hiding An Active Weapons Program. In its report, Thời báo New York clarified that the discovery of the old chemical weapons “did not support the government's invasion rationale”:

The United States had gone to war declaring it must destroy an active weapons of mass destruction program. Instead, American troops gradually found and ultimately suffered from the remnants of long-abandoned programs, built in close collaboration with the West.

[. ]

After the terrorist attacks of Sept. 11, 2001, Mr. Bush insisted that Mr. Hussein was hiding an active weapons of mass destruction program, in defiance of international will and at the world's risk. United Nations inspectors said they could not find evidence for these claims. [Thời báo New York, 10/15/14]

Bưu điện Washington: The Bush Administration "Staked Its WMD Yêu cầuNS On An Active, On-Going Program." Các Bưu điện Washington fact checked whether the NYT report reflected what the Bush administration claimed about weapons of mass destruction in Iraq, pointing out that the Times report says the “weapons were manufactured before the 1991 invasion of Kuwait,” but the Bush administration “staked its WMD claims on an active, on-going program that was restarted after the Kuwait conflict.” [Các Bưu điện Washington, 10/15/14]

President Bush: Iraq "Possesses and Produces Chemical And Biological Weapons." In a 2002 speech President Bush claimed that Iraq had violated its obligation to “destroy its weapons of mass destruction” and “to cease all development of such weapons.” He went on to state that Iraq “possesses and produces chemical and biological weapons. It is seeking nuclear weapons.” Bush also asserted that “surveillance photos reveal that the regime is rebuilding facilities that it had used to produce chemical and biological weapons.” [White House Archives, 10/7/02]

Colin Powell: Iraq's Deadly Weapons Programs Are A "Real And Present" Danger. In a speech to the United Nations Security Council in 2003, Colin Powell, the Secretary of State at the time, argued that weapons programs in Iraq were an imminent threat:

The facts on Iraqis' behavior - Iraq's behavior demonstrate that Saddam Hussein and his regime have made no effort -- no effort -- to disarm as required by the international community. Indeed, the facts and Iraq's behavior show that Saddam Hussein and his regime are concealing their efforts to produce more weapons of mass destruction.

[. ]

The gravity of this moment is matched by the gravity of the threat that Iraq's weapons of mass destruction pose to the world. Let me now turn to those deadly weapons programs and describe why they are real and present dangers to the region and to the world. [The Guardian, 2/5/03]


Why did Bush go to war in Iraq?

No, it wasn’t because of WMDs, democracy or Iraqi oil. The real reason is much more sinister than that.

Sixteen years after the United States invaded Iraq and left a trail of destruction and chaos in the country and the region, one aspect of the war remains criminally underexamined: why was it fought in the first place? What did the Bush administration hope to get out of the war?

The official, and widely-accepted, story remains that Washington was motivated by Saddam Hussein’s weapons of mass destruction (WMD) programme. His nuclear capabilities, especially, were deemed sufficiently alarming to incite the war. As then US Secretary of State Condoleezza Rice said, “We do not want the smoking gun to be a mushroom cloud.”

Despite Saddam not having an active WMD programme, this explanation has found support among some International Relations scholars, who say that while the Bush administration was wrong about Saddam’s WMD capabilities, it was sincerely wrong. Intelligence is a complicated, murky enterprise, the argument goes, and given the foreboding shadow of the 9/11 attacks, the US government reasonably, if tragically, misread the evidence on the dangers Saddam posed.

There is a major problem with this thesis: there is no evidence for it, beyond the words of the Bush officials themselves. And since we know the administration was engaged in a widespread campaign of deception and propaganda in the run-up to the Iraq war, there is little reason to believe them.

My investigation into the causes of the war finds that it had little to do with fear of WMDs – or other purported goals, such as a desire to “spread democracy” or satisfy the oil or Israel lobbies. Rather, the Bush administration invaded Iraq for its demonstration effect.

A quick and decisive victory in the heart of the Arab world would send a message to all countries, especially to recalcitrant regimes such as Syria, Libya, Iran, or North Korea, that American hegemony was here to stay. Put simply, the Iraq war was motivated by a desire to (re)establish American standing as the world’s leading power.

Indeed, even before 9/11, then-Secretary of Defense Donald Rumsfeld saw Iraq through the prism of status and reputation, variously arguing in February and July 2001 that ousting Saddam would “enhance US credibility and influence throughout the region” and “demonstrate what US policy is all about”.

These hypotheticals were catalysed into reality by September 11, when symbols of American military and economic dominance were destroyed. Driven by humiliation, the Bush administration felt that the US needed to reassert its position as an unchallengeable hegemon.

The only way to send a message so menacing was a swashbuckling victory in war. Crucially, however, Afghanistan was not enough: it was simply too weak a state. As prison bullies know, a fearsome reputation is not acquired by beating up the weakest in the yard. Or as Rumsfeld put it on the evening of 9/11, “We need to bomb something else to prove that we’re, you know, big and strong and not going to be pushed around by these kinds of attacks.”

Moreover, Afghanistan was a “fair” war, a tit-for-tat response to the Taliban’s provision of sanctuary to al-Qaeda’s leadership. Rumsfeld, Deputy Secretary of Defense Paul Wolfowitz, and Under Secretary of Defense for Policy Douglas Feith considered restricting retaliation to Afghanistan dangerously “limited”, “meager”, and “narrow”. Doing so, they alleged, “may be perceived as a sign of weakness rather than strength” and prove to “embolden rather than discourage regimes” opposed to the US. They knew that sending a message of unbridled hegemony entailed a disproportionate response to 9/11, one that had to extend beyond Afghanistan.

Iraq fit the bill both because it was more powerful than Afghanistan and because it had been in neoconservative crosshairs since George HW Bush declined to press on to Baghdad in 1991. A regime remaining defiant despite a military defeat was barely tolerable before 9/11. Afterwards, however, it became untenable.

That Iraq was attacked for its demonstration effect is attested to by several sources, not least the principals themselves – in private. A senior administration official told a reporter, off the record, that “Iraq is not just about Iraq”, rather “it was of a type”, including Iran, Syria, and North Korea.

In a memo issued on September 30, 2001, Rumsfeld advised Bush that “the USG [US government] should envision a goal along these lines: New regimes in Afghanistan and another key State [or two] that supports terrorism [to strengthen political and military efforts to change policies elsewhere]”.

Feith wrote to Rumsfeld in October 2001 that action against Iraq would make it easier to “confront – politically, militarily, or otherwise” Libya and Syria. As for then-Vice President Dick Cheney, one close adviser revealed that his thinking behind the war was to show: “We are able and willing to strike at someone. That sends a very powerful message.”

In a 2002 column, Jonah Goldberg coined the “Ledeen Doctrine”, named after neoconservative historian Michael Ledeen. The “doctrine” states: “Every ten years or so, the United States needs to pick up some small crappy little country and throw it against the wall, just to show the world we mean business.”

It may be discomfiting to Americans to say nothing of millions of Iraqis that the Bush administration spent their blood and treasure for a war inspired by the Ledeen Doctrine. Did the US really start a war – one that cost trillions of dollars, killed hundreds of thousands of Iraqis, destabilised the region, and helped create the Islamic State of Iraq and the Levant (ISIL) – just to prove a point?

More uncomfortable still is that the Bush administration used WMDs as a cover, with equal parts fearmongering and strategic misrepresentation – lying – to exact the desired political effect. Indeed, some US economists consider the notion that the Bush administration deliberately misled the country and the globe into war in Iraq to be a “conspiracy theory”, on par with beliefs that President Barack Obama was born outside the US or that the Holocaust did not occur.

But this, sadly, is no conspiracy theory. Even Bush officials have sometimes dropped their guard. Feith confessed in 2006 that “the rationale for the war didn’t hinge on the details of this intelligence even though the details of the intelligence at times became elements of the public presentation”.

That the administration used the fear of WMDs and terrorism to fight a war for hegemony should be acknowledged by an American political establishment eager to rehabilitate George W Bush amid the rule of Donald Trump, not least because John Bolton, Trump’s national security adviser, seems eager to employ similar methods to similar ends in Iran.

The views expressed in this article are the author’s own and do not necessarily reflect Al Jazeera’s editorial stance.


Bush on Iraq's Invasion of Kuwait - HISTORY

G eorge NS . W . B ush

Address on Iraq's Invasion of Kuwait - Operation Desert Shield

Your browser does not support the video tag.

In the life of a nation, we're called upon to define who we are and what we believe. Sometimes these choices are not easy. But today as President, I ask for your support in a decision I've made to stand up for what's right and condemn what's wrong, all in the cause of peace.

At my direction, elements of the 82nd Airborne Division as well as key units of the United States Air Force are arriving today to take up defensive positions in Saudi Arabia. I took this action to assist the Saudi Arabian Government in the defense of its homeland. No one commits America's Armed Forces to a dangerous mission lightly, but after perhaps unparalleled international consultation and exhausting every alternative, it became necessary to take this action. Let me tell you why.

Less than a week ago, in the early morning hours of August 2d, Iraqi Armed Forces, without provocation or warning, invaded a peaceful Kuwait. Facing negligible resistance from its much smaller neighbor, Iraq's tanks stormed in blitzkrieg fashion through Kuwait in a few short hours. With more than 100,000 troops, along with tanks, artillery, and surface-to-surface missiles, Iraq now occupies Kuwait. This aggression came just hours after Saddam Hussein specifically assured numerous countries in the area that there would be no invasion. There is no justification whatsoever for this outrageous and brutal act of aggression.

A puppet regime imposed from the outside is unacceptable. The acquisition of territory by force is unacceptable. No one, friend or foe, should doubt our desire for peace and no one should underestimate our determination to confront aggression.

Four simple principles guide our policy. First, we seek the immediate, unconditional, and complete withdrawal of all Iraqi forces from Kuwait. Second, Kuwait's legitimate government must be restored to replace the puppet regime. And third, my administration, as has been the case with every President from President Roosevelt to President Reagan, is committed to the security and stability of the Persian Gulf. And fourth, I am determined to protect the lives of American citizens abroad.

Immediately after the Iraqi invasion, I ordered an embargo of all trade with Iraq and, together with many other nations, announced sanctions that both freeze all Iraqi assets in this country and protected Kuwait's assets. The stakes are high. Iraq is already a rich and powerful country that possesses the world's second largest reserves of oil and over a million men under arms. It's the fourth largest military in the world. Our country now imports nearly half the oil it consumes and could face a major threat to its economic independence. Much of the world is even more dependent upon imported oil and is even more vulnerable to Iraqi threats.

We succeeded in the struggle for freedom in Europe because we and our allies remain stalwart. Keeping the peace in the Middle East will require no less. We're beginning a new era. This new era can be full of promise, an age of freedom, a time of peace for all peoples. But if history teaches us anything, it is that we must resist aggression or it will destroy our freedoms. Appeasement does not work. As was the case in the 1930's, we see in Saddam Hussein an aggressive dictator threatening his neighbors. Only 14 days ago, Saddam Hussein promised his friends he would not invade Kuwait. And 4 days ago, he promised the world he would withdraw. And twice we have seen what his promises mean: His promises mean nothing.

In the last few days, I've spoken with political leaders from the Middle East, Europe, Asia, and the Americas and I've met with Prime Minister Thatcher, Prime Minister Mulroney, and NATO Secretary General Woerner. And all agree that Iraq cannot be allowed to benefit from its invasion of Kuwait.

We agree that this is not an American problem or a European problem or a Middle East problem: It is the world's problem. And that's why, soon after the Iraqi invasion, the United Nations Security Council, without dissent, condemned Iraq, calling for the immediate and unconditional withdrawal of its troops from Kuwait. The Arab world, through both the Arab League and the Gulf Cooperation Council, courageously announced its opposition to Iraqi aggression. Japan, the United Kingdom, and France, and other governments around the world have imposed severe sanctions. The Soviet Union and China ended all arms sales to Iraq.

And this past Monday, the United Nations Security Council approved for the first time in 23 years mandatory sanctions under chapter VII of the United Nations Charter. These sanctions, now enshrined in international law, have the potential to deny Iraq the fruits of aggression while sharply limiting its ability to either import or export anything of value, especially oil.

I pledge here today that the United States will do its part to see that these sanctions are effective and to induce Iraq to withdraw without delay from Kuwait.

But we must recognize that Iraq may not stop using force to advance its ambitions. Iraq has massed an enormous war machine on the Saudi border capable of initiating hostilities with little or no additional preparation. Given the Iraqi government's history of aggression against its own citizens as well as its neighbors, to assume Iraq will not attack again would be unwise and unrealistic.

And therefore, after consulting with King Fahd, I sent Secretary of Defense Dick Cheney to discuss cooperative measures we could take. Following those meetings, the Saudi Government requested our help, and I responded to that request by ordering U.S. air and ground forces to deploy to the Kingdom of Saudi Arabia.

Let me be clear: The sovereign independence of Saudi Arabia is of vital interest to the United States. This decision, which I shared with the congressional leadership, grows out of the longstanding friendship and security relationship between the United States and Saudi Arabia. U.S. forces will work together with those of Saudi Arabia and other nations to preserve the integrity of Saudi Arabia and to deter further Iraqi aggression. Through their presence, as well as through training and exercises, these multinational forces will enhance the overall capability of Saudi Armed Forces to defend the Kingdom.

I want to be clear about what we are doing and why. America does not seek conflict, nor do we seek to chart the destiny of other nations. But America will stand by her friends. The mission of our troops is wholly defensive. Hopefully, they will not be needed long. They will not initiate hostilities, but they will defend themselves, the Kingdom of Saudi Arabia, and other friends in the Persian Gulf.

We are working around the clock to deter Iraqi aggression and to enforce U.N. sanctions. I'm continuing my conversations with world leaders. Secretary of Defense Cheney has just returned from valuable consultations with President Mubarak of Egypt and King Hassan of Morocco. Secretary of State Baker has consulted with his counterparts in many nations, including the Soviet Union, and today he heads for Europe to consult with President Ozal of Turkey, a staunch friend of the United States. And he'll then consult with the NATO Foreign Ministers.

I will ask oil-producing nations to do what they can to increase production in order to minimize any impact that oil flow reductions will have on the world economy. And I will explore whether we and our allies should draw down our strategic petroleum reserves. Conservation measures can also help Americans everywhere must do their part. And one more thing: I'm asking the oil companies to do their fair share. They should show restraint and not abuse today's uncertainties to raise prices.

Standing up for our principles will not come easy. It may take time and possibly cost a great deal. But we are asking no more of anyone than of the brave young men and women of our Armed Forces and their families. And I ask that in the churches around the country prayers be said for those who are committed to protect and defend America's interests.

Standing up for our principle is an American tradition. As it has so many times before, it may take time and tremendous effort, but most of all, it will take unity of purpose. As I've witnessed throughout my life in both war and peace, America has never wavered when her purpose is driven by principle. And in this August day, at home and abroad, I know she will do no less.


Xem video: US President gives Saddam 48 hour ultimatum (Có Thể 2022).


Bình luận:

  1. Chogan

    Và bây giờ nó ấm áp ở Crimea)) và bạn?

  2. Tygolabar

    It yes!

  3. Djoser

    Funny question

  4. Kazitilar

    Sorry, the message is deleted

  5. Sanson

    Phạm sai lầm. Hãy để chúng tôi cố gắng thảo luận về điều này.

  6. Chansomps

    Không có gì. Tôi biết.



Viết một tin nhắn