Dân tộc, Quốc gia, Sự kiện

Mỹ và Việt Nam (đến năm 1965)

Mỹ và Việt Nam (đến năm 1965)

Chiến tranh Việt Nam đọ sức với Mỹ chống lại chủ nghĩa cộng sản và là một ví dụ kinh điển về xung đột Chiến tranh Lạnh. Các đồng minh phương Tây đã chiến thắng ở Berlin, nhưng chủ nghĩa cộng sản đã bén rễ ở Trung Quốc. Đông Âu vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Nga và tại Việt Nam, mối đe dọa đáng sợ của người Mỹ đối với chủ nghĩa cộng sản lan rộng dường như là có thật.



Trong những năm 1950, Mỹ đã phát triển Lý thuyết Domino của mình. Đây là sáng tạo của John Foster Dulles, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ. Ông tin rằng nếu một quốc gia được phép rơi vào chủ nghĩa cộng sản, thì quốc gia bên cạnh đó sẽ là quốc gia tiếp theo sụp đổ giống như khi một domino rơi phần còn lại sẽ đi cùng với nó nếu chúng được kết nối. Trước nỗi sợ hãi ở Mỹ về chủ nghĩa cộng sản lan rộng khắp thế giới, tư tưởng về Việt Nam bắt đầu quá trình chuyển sang chủ nghĩa cộng sản và sau đó nó lan rộng là không thể chấp nhận được.

Rõ ràng là chính phủ của Ngô Đình Diệm sẽ nhận được sự hỗ trợ từ người Mỹ trong nỗ lực tránh bằng mọi giá cho sự mở rộng hơn nữa của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á. Chắc chắn, sau Hiệp định Genève 1954, Mỹ đã nhanh chóng hỗ trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam (hoàn toàn là Việt Nam Cộng hòa) thông qua Nhóm Cố vấn Hỗ trợ Quân sự (MAAG) do Trung tướng John O'Daniel lãnh đạo.

Năm 1955, Hoa Kỳ cũng bắt đầu gửi các cố vấn đặc biệt của người Hồi giáo đến miền Nam Việt Nam (Lưu ý: Đến năm 1961, có 1.500 cố vấn đặc biệt ở nước này. Đây là những người từ Lực lượng đặc biệt của Mỹ đã ở đó để huấn luyện cho Quân đội miền Nam Việt Nam cách chiến đấu Việt Cộng. Đến năm 1963, có 16.000 cố vấn đặc biệt ở miền Nam Việt Nam).

Một trong những vấn đề cấp bách nhất mà Diệm phải đối mặt là làm thế nào để cai trị một đất nước có quá nhiều nhóm tôn giáo và chính trị đa dạng trong đó. Có một nỗi sợ hãi thực sự rằng một cuộc nội chiến có thể nổ ra và một trong những nhiệm vụ đầu tiên của MAAG là tạo ra một đội quân quốc gia cho miền Nam sẽ tạo ra một sự gắn kết quốc gia nào đó chống lại kẻ thù 'tự nhiên' - miền Bắc. O'Daniel có khoảng 300 đến 400 nhân viên làm nhiệm vụ này. Trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, miền Nam có một đội quân gồm 150.000 người được Mỹ tài trợ và được đào tạo bởi người của họ. Những người này được chi tiết để bảo vệ khu phi quân sự được thiết lập giữa miền Bắc và miền Nam sau Hiệp định Genève. Họ được huấn luyện để chiến đấu với một cuộc chiến thông thường trái ngược với một cuộc du kích.

Mặc dù Mỹ ủng hộ Diệm ở cấp độ quân sự và tài chính, họ đã phải đối mặt với một vấn đề mà chính họ có thể làm rất ít vào cuối những năm 1950. Diệm cũng đã tạo ra một đội quân cá nhân gồm khoảng 150.000 người có thể trả lời được cho anh ta. Lực lượng bán quân sự này được sử dụng để làm đối trọng với Quân đội miền Nam Việt Nam, những sĩ quan cao cấp được Diệm biết là có tham vọng chính trị. Với một người bị Diệm thi đấu với người kia, nước Mỹ phải đối mặt với vấn đề không thể tập trung hoàn toàn sự chú ý của họ vào những gì nước Mỹ cho là kẻ thù chung.

Vào thời tổng thống của Kennedy, ở Washington DC, rõ ràng rằng nếu có một chiến dịch thành công chống lại miền Bắc, Diệm phải ra đi vì ông là một nhà lãnh đạo gây chia rẽ. Vào tháng 9 năm 1963, Kennedy tuyên bố rằng chính phủ của Diệm phải nỗ lực nhiều hơn để giành chiến thắng trước những người ở Nam Việt Nam, những người không xuất thân từ Công giáo hay Công giáo La Mã. Kennedy cũng tuyên bố rằng ông nghĩ rằng, những cuộc đàn áp chống lại Phật tử trong nước là rất không khôn ngoan.

Có những lời chỉ trích ở Mỹ, nơi tham nhũng của Diệm đã được biết đến. Đến năm 1963, Hoa Kỳ đã chi 400.000.000 đô la hỗ trợ Nam Việt Nam nhưng đã nhận được rất ít lợi nhuận cho khoản đầu tư của họ. Số tiền này nhằm mục đích hiện đại hóa Quân đội miền Nam Việt Nam, nhưng số tiền lớn đã được Diệm, các thành viên trong gia đình và bạn bè của ông bỏ túi. Không có gì ngạc nhiên khi Hoa Kỳ khi các sĩ quan cao cấp trong quân đội miền Nam ám sát Diệm và anh trai của anh ta. Trên thực tế, Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) đã duy trì liên lạc với các tướng lĩnh liên quan đến âm mưu trong nhiều tuần dẫn đến vụ ám sát Diệm. Rằng họ không làm gì để ngăn chặn điều đó cho thấy mong muốn và sự ủng hộ của họ cho bất kỳ nỗ lực nào để loại bỏ Diệm khỏi quyền lực. Tuy nhiên, sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với Diệm hơn tám năm trùng hợp với thời điểm miền Bắc tiến sâu vào việc giành được sự ủng hộ và tin tưởng của nông dân ở các khu vực rộng lớn ở miền Nam. Chính Kennedy đã thừa nhận rằng hơn 20% tất cả các làng ủng hộ NLF mặc dù 'Ấp chiến lược hoạt động'.


Bất kể sự hiện diện và nỗ lực của họ ở phía tây để đánh bại Việt Cộng, có thể là vào năm 1962, hơn 75% nông dân miền Nam Việt Nam đã ủng hộ Việt Cộng khi họ được coi là những người giải phóng khỏi chính phủ Diệm không thể chấp nhận được. Để cứu những người nông dân từ Việt Cộng, Diệm đã tổ chức một hệ thống theo đó toàn bộ các làng được chuyển vào các trại được bảo vệ - được gọi là các làng kiên cố. Chính sách này phản tác dụng vì nông dân không muốn bị xóa khỏi đất của họ và vì thế chính sách này đã được trao vào tay Việt Cộng, những người đang hứa với nông dân nhiều đất hơn một khi chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ miền Nam.

Sự nổi tiếng của Diệm lớn đến nỗi vào tháng 11 năm 1963, Quân đội miền Nam đã lật đổ và giết chết ông. Sự nhầm lẫn ở cấp độ chính trị ở miền Nam Việt Nam và lạm dụng quyền nông dân trong cộng đồng nông nghiệp là hai lý do cho sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở miền nam. Sự phát triển như vậy đã báo động cho tổng thống Mỹ, Lyndon Johnson, người đã yêu cầu các chỉ huy quân sự của mình xây dựng kế hoạch nếu một cuộc chiến toàn diện nổ ra. Một điều chắc chắn mà các tham mưu trưởng đã có là nước Mỹ phải được coi là nạn nhân chứ không phải là kẻ xâm lược.

Vào tháng 8 năm 1964, sự cố Tongking xảy ra khi hai tàu khu trục Mỹ bị pháo hạm Bắc Việt tấn công khi chúng đang ở trong vùng biển quốc tế. Đáp lại điều này, Thượng viện Mỹ trao cho Johnson quyền hỗ trợ vũ trang để hỗ trợ bất kỳ quốc gia nào yêu cầu giúp đỡ bảo vệ quyền tự do của mình. Tháng 3/1965, những người lính mặt đất đầu tiên của Mỹ đổ bộ vào Nam Việt Nam và đến tháng 12 năm 1965, có 150.000 người đóng quân ở nước này. Vụ đánh bom miền Bắc Việt Nam đã bắt đầu vào tháng 2/1965.

Xem thêm: Nguyên nhân của chiến tranh Việt NamJohn F Kennedy và Việt Nam
Tiếp theo: Mỹ và Việt Nam (1965-1973)

Bài viết liên quan

  • Mỹ và Việt Nam (1965-1973)

    Chiến tranh Việt Nam đọ sức với Mỹ chống lại chủ nghĩa cộng sản và là một ví dụ kinh điển về xung đột Chiến tranh Lạnh. Các đồng minh phương Tây đã chiến thắng ở Berlin, nhưng

  • John F Kennedy và Việt Nam

    John Fitzgerald Kennedy là một tín đồ nhiệt thành trong việc kiềm chế chủ nghĩa cộng sản. Trong bài phát biểu đầu tiên về việc trở thành tổng thống, Kennedy đã nói rõ rằng ông sẽ tiếp tục

  • Sự tham gia của Mỹ tại Việt Nam

    Sự can dự của Mỹ vào Việt Nam, đó là dẫn đến một cuộc tấn công quân sự toàn diện vào Bắc Việt Nam, là một phần của kịch bản Chiến tranh Lạnh mà Hồi