Ngoài ra

Điệp viên của kỷ nguyên chiến tranh lạnh

Điệp viên của kỷ nguyên chiến tranh lạnh


Các gián điệp và gián điệp đã trở thành một phần của trò chơi Chiến tranh Lạnh. Cả hai bên trong Chiến tranh Lạnh đều sử dụng gián điệp như một cách thu nhận kiến ​​thức về những gì bên kia đang làm hoặc để truyền bá kiến ​​thức sai lệch về những gì một bên đang làm. Các điệp viên có thể trở thành điệp viên hai mang và toàn bộ câu chuyện đã phát triển một hình ảnh khá lãng mạn do kết quả của các bộ phim về các điệp viên phương Tây. Tuy nhiên, đối với tất cả bọn họ gián điệp là xa lãng mạn - đó là một công việc cực kỳ nguy hiểm và nhiều người làm việc biết rằng hầu như không có cơ hội được giải cứu nếu bị bắt. Một số ít được đổi lấy các gián điệp khác - nhưng nhà tù hoặc xử tử là những hình phạt thông thường hơn khi bị bắt - hoặc do phản bội hoặc phạm lỗi.

Cả hai bên liên quan đến Chiến tranh Lạnh đều sử dụng gián điệp từ tất cả các loại bối cảnh. Khả năng kết hợp hoàn hảo vào nền là rất quan trọng. Liên Xô cũng thuê những người đàn ông từ Anh để theo dõi Anh - những người đàn ông đã bị ảnh hưởng bởi lối sống của người Anh và nhìn về phía đông. Nổi tiếng nhất là "Năm Cambridge" - những sinh viên tốt nghiệp do kết quả xuất thân của họ đã đạt được những vị trí cao trong Cơ sở Anh. Trong suốt kỷ nguyên của Chiến tranh Lạnh, thông tin tình cờ có được ở Anh đã kết thúc với KGB. Các đặc vụ Anh ở Liên Xô đã phải trả giá đắt cho sự phản bội của họ.

Mức độ mà 'Thành lập' đã bị xâm nhập lần đầu tiên trở nên rõ ràng vào năm 1951 khi Guy Burgess và Donald Maclean trốn khỏi Anh để đến Liên Xô. Họ đã được cho biết rằng họ sắp bị bắt giữ bởi Kim Philby, người từ năm 1944 đến năm 1946, là người đứng đầu các hoạt động phản gián tại Tình báo Anh. Cả ba người đàn ông đều là một phần của 'Năm Cambridge'. Burgess và Maclean đã chuyển qua Liên Xô hàng ngàn tài liệu mật.

Năm 1955, John Vassal, tùy viên hải quân tại Đại sứ quán Anh ở Moscow đã bị bỏ tù mười tám năm sau khi làm gián điệp cho Liên Xô. Một năm sau, vào năm 1956, Burgess và Maclean nổi lên ở Moscow sau khi dường như biến mất vào năm 1951. Tại đây, họ đã an toàn một cách hợp lý khi Chiến tranh Lạnh chuyển lên một tầm cao mới với Khủng hoảng Suez và Cuộc nổi dậy ở Hungary. Cả hai bên trong Chiến tranh Lạnh trở nên cố thủ hơn trong quan điểm của họ về phía bên kia và với chính quyền Liên Xô Burgess và Maclean là những danh hiệu xuất sắc - và cũng là 'bằng chứng' cho thấy cách sống của người Anh không thể tốt. Rốt cuộc, tại sao hai người đàn ông có giáo dục tốt sẽ rời đi nếu lối sống của họ rất tốt ở đó? Cũng trong năm 1956, Anthony Blunt đã nhận được một hiệp sĩ và được giao phụ trách bộ sưu tập nghệ thuật của Nữ hoàng. Nhiều năm sau, có thông báo rằng ông là thành viên thứ tư của 'Năm Cambridge'. Tuy nhiên, vào năm 1956, cuộc hẹn của ông là một dấu hiệu cho thấy việc thành lập một số điệp viên đã tự mình tìm hiểu được bao xa.

Công nghệ hạt nhân rất quan trọng đối với cả hai bên nếu họ không bị bên kia xem là tụt lại phía sau. Sự ra mắt của Sputnik là một cú đánh lớn vào niềm tự hào của người Mỹ và ý nghĩa của nó đối với bom hạt nhân được chuyển giao bằng tên lửa là rất lớn. Tuy nhiên, công nghệ tàu ngầm hạt nhân cũng rất quan trọng đối với các tên lửa hạt nhân phóng từ tàu ngầm. Cả hai bên đều muốn biết người kia đang làm gì trong lĩnh vực này. Năm 1961, ba người đàn ông và hai người phụ nữ bị bỏ tù - Gordon Lonsdale, Peter Kroger, Helen Kroger, Henry Houghton và Ethel Gee. Họ bị kết tội âm mưu bàn giao cho người Nga những bí mật về tàu ngầm hạt nhân đầu tiên của Anh. Cũng trong năm 1961, George Blake bị kết án 42 năm tù vì tội gián điệp cho Liên Xô. Blake đã làm việc cho Tình báo Anh, nhưng trên thực tế, là một điệp viên hai mang và đã có tổng cộng chín năm. Năm 1966, Blake trốn thoát khỏi nhà tù.

Năm 1963, người đàn ông đã lãnh đạo 'Năm Cambridge' trốn sang Liên Xô. Kim Philby tin rằng đó chỉ là vấn đề thời gian trước khi anh ta bị bắt - do đó anh ta đã đào tẩu. Năm 1963, Philby thừa nhận rằng ông là người được gọi là 'Người đàn ông thứ ba'. Cũng trong năm 1963, Grenville Wynne bị kết án 8 năm trong một nhà tù Liên Xô bị kết tội làm gián điệp cho phương Tây. Năm 1964, Blunt tuyên bố rằng ông là thành viên của 'Cambridge Five' cũng như John Cairncross. Tuy nhiên, không ai bị truy tố mặc dù họ nhập học.

Năm 1971, Tình báo Anh tuyên bố rằng 120 sĩ quan tình báo Liên Xô đang hoạt động ở Anh - phần lớn với một số hình thức ngoại giao. Do đó, chính phủ Anh đã trục xuất 105 quan chức Liên Xô. Trong quá khứ, Tình báo Anh đã từng giao dịch với các nhóm nhỏ. Tuy nhiên, họ đã nhận được một mỏ vàng tình báo khi một sĩ quan KGB - Oleg Lyalin - đào thoát sang Anh. Anh ta tiếp xúc với những đặc vụ mà anh ta biết. Đây là một mảnh may mắn phi thường cho Tình báo Anh. Tuy nhiên, điều này không ngăn được KGB cố gắng xâm nhập vào Tình báo Anh. Những đặc vụ được Lyalin biết đến đã bị trục xuất nhưng họ có thể được thay thế bằng những đặc vụ mà ông không biết.

KGB cũng nỗ lực nhiều hơn để biến các đặc vụ Anh làm việc cho MI5. Tuy nhiên, thành công của họ trong việc này đã bị ảnh hưởng khi vào năm 1984 Michael Bettany, một sĩ quan tại MI5, bị bỏ tù 23 năm vì đã chuyển các bí mật cho Liên Xô. Tình báo Nga đã phải chịu một đòn khác khi một đặc vụ KGB khác, Oleg Gordievsky, trở thành một đặc vụ MI6 và đã tiếp xúc với Bettany. Gordievsky cũng tiếp xúc với các điệp viên Nga khác đang hoạt động ở Anh và năm 1985, 25 trong số các điệp viên này đã bị trục xuất khỏi Anh.

Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và các vấn đề nội bộ ở Nga, bao gồm cả việc Liên Xô tan rã, đã dẫn đến việc giảm gián điệp - nhưng nó đã không chấm dứt. Năm 1996, Nga đã trục xuất chín nhà ngoại giao Anh vì điều hành một vòng gián điệp. Năm 1997, một cựu đặc vụ MI6, Richard Norwood, đã bị bỏ tù một năm vì đã truyền bí mật cho Nga. Năm 2002, Raphael Bravo bị bỏ tù 11 năm vì cố bán bí mật cho người Nga và năm 2003 Ian Parr đã nhận bản án mười năm vì cố bán cho bí mật tên lửa Cruise của Nga.