NATO

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) được thành lập vào năm 1949. NATO được coi là một công cụ răn đe quân sự khả thi chống lại sức mạnh quân sự của Liên Xô. Đáp lại việc NATO thừa nhận tư cách thành viên của Tây Đức, Liên Xô đã tập hợp tất cả các quốc gia khách hàng của mình ở Đông Âu vào Hiệp ước Warsaw vào tháng 5 năm 1955. Trái tim của NATO đập xung quanh lực lượng quân sự và tài chính của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vì mối đe dọa của Liên Xô sau chiến tranh được cho là chống lại Tây Âu, nên trụ sở của NATO có trụ sở tại Brussels, Bỉ.

Các thành viên ban đầu của NATO là Mỹ, Anh, Bỉ, Hà Lan, Luxemburg, Pháp, Canada, Bồ Đào Nha, Ý, Na Uy, Đan Mạch và Iceland. Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đã tham gia vào năm 1952.

Phần chính của các quốc gia thành viên NATO:

Các đảng của NATO đồng ý rằng một cuộc tấn công vũ trang chống lại một trong số họ ở châu Âu hoặc Bắc Mỹ sẽ được coi là một cuộc tấn công chống lại tất cả bọn họ. Do đó, họ đồng ý rằng nếu một cuộc tấn công vũ trang như vậy xảy ra, mỗi người trong số họ thực hiện quyền tự vệ cá nhân hoặc tập thể sẽ hỗ trợ nhóm hoặc các bên bị tấn công, cá nhân và phối hợp với các bên khác, như vậy là cần thiết , bao gồm cả việc sử dụng lực lượng vũ trang, để khôi phục và duy trì an ninh của khu vực Bắc Đại Tây Dương.

Thỏa thuận này đã không ràng buộc một quốc gia thành viên với một phản ứng quân sự nhưng một phản ứng như đã được mong đợi là điều cần thiết.

Năm 1952 tại Hội nghị Lisbon, các quốc gia thành viên đã thảo luận về việc mở rộng NATO lên 96 sư đoàn - điều này là để đối phó với mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản sau cuộc xâm lược của Bắc Triều Tiên với Hàn Quốc và Chiến tranh Triều Tiên sau đó. Tuy nhiên, vào năm 1953, nó đã đồng ý giới hạn NATO ở 35 sư đoàn nhưng với độ tin cậy cao hơn về vũ khí hạt nhân.

Trong nhiều năm, chỉ có Mỹ cung cấp vũ khí hạt nhân cho NATO, mặc dù cả Anh và Pháp cuối cùng đều tự sản xuất năng lực hạt nhân.

Pháp, tức giận vì những gì họ coi là sự thống trị của Mỹ trong NATO, đã rút lui một cách hiệu quả vào năm 1959 và phát triển lực lượng hạt nhân độc lập của riêng mình. Charles de Gaulle nói rõ rằng chỉ có chính phủ Pháp mới xác định khi nào và liệu vũ khí đó có được sử dụng hay không. Ông ra lệnh rút Hạm đội Hải quân Địa Trung Hải của Pháp khỏi bộ chỉ huy NATO và trong cùng năm đó đã cấm tất cả vũ khí hạt nhân nước ngoài khỏi đất Pháp. Năm 1966, tất cả các lực lượng quân sự Pháp đã rút khỏi bộ chỉ huy của NATO. Pháp vẫn là thành viên của NATO nhưng có lực lượng vũ trang dưới sự kiểm soát của chính phủ Pháp. Tuy nhiên, trong các cuộc đàm phán bí mật, các kế hoạch đã được thực hiện để đưa lực lượng Pháp trở lại dưới sự chỉ huy của NATO trong trường hợp các quốc gia Warsaw Pact xâm chiếm Tây Âu.

Trước hậu quả của Thế chiến thứ hai, Tây Âu đã dựa vào sự hỗ trợ và sức mạnh của Mỹ để tự vệ trước mối đe dọa của Liên Xô. Tuy nhiên, khi Tây Âu tìm thấy đôi chân của mình sau Thế chiến thứ hai, một vệt độc lập hơn đã được xác định là coi Mỹ quá nổi trội trong các vấn đề của NATO và Tây Âu - do đó, Pháp chuyển mình thành một quốc gia hạt nhân độc lập. Ở Anh, điều tương tự cũng xảy ra - mặc dù Vương quốc Anh ít công khai chỉ trích sự thống trị của Mỹ đối với NATO - và khả năng hạt nhân độc lập được phát triển dựa trên V Force (máy bay ném bom Vulcan, Victor và Valiant) và phát triển tên lửa Blue Streak. Cả Pháp và Anh đều phát triển khả năng tàu ngầm hạt nhân độc lập - mặc dù Anh đã mua tên lửa của Mỹ, do đó đồng cảm với tầm quan trọng của Mỹ đối với Tây Âu và NATO.

Để bảo vệ trái tim của châu Âu, NATO đã dựa vào một lực lượng không quân và đất đai khổng lồ ở Tây Đức. Đây là một phản ứng rõ ràng với Quân đội Liên Xô thống trị Hiệp ước Warsaw. Năm 1979, để đáp trả việc xây dựng sức mạnh quân sự Warsaw Pact, NATO đã đồng ý triển khai tên lửa American Cruise và Pers Breath II ở Tây Âu. Vào những năm 1983-84, khi Hiệp ước Warsaw triển khai tên lửa SS-20 ở Đông Âu, NATO đã đáp trả bằng cách triển khai các tên lửa Ba Tư hiện đại hơn. Kết hợp với khả năng hạt nhân của mình, NATO cũng có thể kêu gọi một lực lượng thông thường đáng gờm.

Năm 1983, NATO tuyên bố có ở Tây Âu:

1.986.000 lính mặt đất

90 đơn vị

20.722 xe tăng chiến đấu chủ lực

2.080 bệ phóng vũ khí chống tăng

182 tàu ngầm

385 tàu ngầm chống ngầm

Tàu vốn 314 (tàu sân bay, tàu tuần dương, v.v.)

821 tàu hải quân khác

4.333 máy bay chiến đấu

6869 súng phòng không và tên lửa đất đối không.

Với năng lực quân sự như vậy, NATO và các chính phủ phương Tây đã ở vào thế mạnh để đàm phán với Moscow về việc giảm vũ khí. Người ta thường coi rằng Liên Xô có những rắc rối tài chính lớn và không thể cạnh tranh với NATO trong việc hiện đại hóa vũ khí của mình. Cách tiếp cận kép này - giảm vũ khí đồng thời duy trì một lực lượng quân sự rất mạnh - đã gặt hái cổ tức trong kỷ nguyên của Gorbachev và Reagan và giúp chấm dứt Chiến tranh Lạnh.


Xem video: What's Happening with NATO (Tháng MườI 2021).